Ring - vòng tròn ác nghiệt

Thảo luận trong 'Tác phẩm sưu tầm' bắt đầu bởi MinhThy, 15 Tháng mười 2010.

  1. MinhThy R.L.G

    5.

    Thứ Hai, ngày 15 tháng Mười

    Mấy ngày qua, mỗi lần thức dậy vào buổi sáng, Asakawa lại thầm mong mọi chuyện sẽ chỉ là giấc mơ. Gã gọi điện đến cửa hiệu cho thuê xe gần nhà để báo với họ rằng gã sẽ tới đó đúng vào giờ đã hẹn hôm qua. Vậy là hôm qua gã có đặt xe thật. Nghĩa là hiện thực vẫn liền mạch nối tiếp nhau.

    Quả là cần phải có một phương tiện di chuyển nếu muốn đến tận nơi để truy tìm nguồn phát sóng. Rất khó có thể gây ảnh hưởng được tới sóng truyền hình chỉ với những máy vô tuyến thông thường nên đó hẳn phải là một loại thiết bị đã được cải tiến bởi một chuyên gia. Chắc chắn cường độ sóng phải rất mạnh vì hình ảnh không hề bị ngắt quãng. Nếu có nhiều thông tin hơn, Asakawa hoàn toàn có thể xác định được khu vực chịu ảnh hưởng của sóng và tìm ra được vị trí trạm phát, nhưng căn cứ duy nhất mà gã có chỉ là việc chiếc ti vi trong ngôi biệt thự B-4 ở Villa Log Cabin đã bắt được sóng. Gã chẳng còn phương pháp nào khác là lấy chỗ đó làm tâm điểm rồi vừa kiểm tra địa hình vừa tìm như tìm rận. Gã không dự liệu được sẽ mất bao lâu nên nhét tạm số quần áo đủ thay trong ba ngày vào túi. Ba ngày… chẳng cần mang hơn thế làm gì.

    Shizu không hề đả động tới cuốn băng mỗi khi hai người giáp mặt nhau. Tối qua, không nghĩ ngay ra được một câu nói dối khả dĩ, Asakawa đành lấp lửng về “cái chết sau một tuần” rồi dỗ dành Shizu đi ngủ. Shizu, tất nhiên chẳng dám làm cho ra nhẽ, vì hẳn là cô cũng mong muốn một tình huống lấp lửng như thế. Không tấn công chồng bằng những câu hỏi như mọi lần, Shizu chìm trong một sự im lặng lạ lùng, có vẻ như cô đang suy luận theo cách thức riêng của mình. Chẳng ai biết cô đã tìm thấy lời giải thích nào chưa nhưng dường như, cảm giác bất an vẫn còn đó. Cô tỏ ra quá đỗi mẫn cảm với những tiếng động bên ngoài, tới mức đã mấy lần cô bật người dậy trong khi theo dõi bộ phim truyền hình nhiều tập phát vào buổi sáng.

    - Cấm em không được nói đến chuyện này nữa. Ngay cả anh cũng không thể trả lời được tại sao, em hiểu chưa. Nhưng anh sẽ lo liệu.

    Asakawa chẳng biết nói thế nào khác để trấn an Shizu. Gã nhất quyết không được tỏ ra mềm yếu trước mặt vợ.

    Chuông điện thoại reo đúng vào lúc Asakawa định ra khỏi nhà. Ryuji gọi.

    - Tớ vừa có một phát hiện khá lý thú đây. Kiểu gì cũng phải hỏi ý kiến cậu. – Giọng Ryuji có vẻ hơi phấn khích.

    - Điện thoại không được à? Mình phải đi thuê xe bây giờ.

    - Thuê xe làm gì?

    - Thì chính cậu bảo mình đi tìm trạm phát sóng còn gì!

    - Nhớ rồi. Nhưng mà thôi, dẹp việc đó lại đã, mau tới đây đi. Chưa biết chừng cậu không phải tìm cột ăng-ten ấy nữa đâu. Vì rất có thể giả định của chúng ta bị chệch hướng.

    Asakawa vẫn quyết định thuê xe rồi mới tới chỗ Ryuji để phòng trường hợp nếu cần phải đi Pacific Land Nam Hakone thì gã có thể đi thẳng từ nhà Ryuji.

    Sau khi đậu xe lên vỉa hè, Asakawa vội vã gõ cửa phòng Ryuji.

    - Vào đi! Không khoá đâu.

    Asakawa đẩy mạnh cánh cửa rồi lao sầm sầm qua bếp.

    - Cậu tìm thấy gì rồi? – Asakawa dồn dập hỏi.

    - Làm gì mà nhóng lên thế.

    Ryuji vẫn ngồi xếp bằng, tròn mắt nhìn gã.

    - Tìm thấy gì rồi thì nói mau lên!

    - Bình tĩnh đã nào.

    - Cậu nói xem, mình có thể bình tĩnh được không!

    Ryuji im lặng một lát. Thế rồi, y từ tốn nói.

    - Có chuyện gì rồi à?

    Asakawa ngồi bệt xuống căn phòng mười mét vuông rồi nắm chặt hai đầu gối trong lòng bàn tay.

    - Vợ mình… vợ mình và con gái mình xem cuộn băng đó rồi.

    - Việc này, gay go đây.

    Ryuji không rời mắt khỏi Asakawa và chờ cho gã bình tĩnh trở lại. Thế rồi trong lúc đó, y hắt hơi một cái rõ to, hỉ mũi đánh toẹt rồi vắt nước mũi.

    - Thế cậu có muốn cứu vợ và con cậu không?

    Asakawa gật đầu như một đứa trẻ.

    - Vậy thì càng phải lạnh cái đầu. Tớ sẽ không đưa ra kết luận trước. Sẽ chỉ có các bằng chứng. Việc của cậu là nói cho tớ biết cậu nhận thấy điều gì từ mỗi bằng chứng ấy. Được chưa nào? Vì vậy, cậu chớ nên mất bình tĩnh.

    - Mình hiểu. – Asakawa ngoan ngoãn chấp thuận.

    Asakawa vừa khóc trước mặt Ryuji. Gã đã trút lên Ryuji toàn bộ những xúc cảm mất tự chủ mà gã không thể bộc lộ trước Shizu.

    Asakawa lau mặt xong và quay trở lại thì Ryuji đưa cho gã một tờ giấy chuyên dùng để viết báo cáo. Trên đó chỉ đơn giản là một bảng liệt kê.

    1) Giới thiệu – 83 giây [0] – Trừu tượng

    2) Màu đỏ chảy ra – 49 giây [0] – Trừu tượng

    3) Núi Mihara – 55 giây [11] – Hiện thực

    4) Núi Mihara phun trào – 32 giây [6] – Hiện thực

    5) Chữ Yama – 56 giây [0] – Trừu tượng

    6) Con xúc xắc – 103 giây [0] – Trừu tượng

    7) Bà già – 111 giây [0] – Trừu tượng

    8) Đứa trẻ sơ sinh – 125 giây [33] – Hiện thực

    9) Vô số những khuôn mặt – 117 giây [0] – Trừu tượng

    10) Chiếc ti vi cũ – 141 giây [35] – Hiện thực

    11) Khuôn mặt người đàn ông – 186 giây [44] – Hiện thực

    12) Cảnh kết – 132 giây [0] – Trừu tượng

    Nhìn vào đó, gã có thể hiểu được phần nào. Bảng liệt kê chia đoạn phim trong băng thành từng phân cảnh.

    - Tối qua bất chợt nghĩ ra nên tớ mới lập thành bảng này. Cậu hiểu ý nghĩa của nó đúng không nào? Đoạn phim được ghép từ mười hai phân cảnh. Tớ đã đánh dấu và đặt tên cho từng cảnh một. Đằng sau tên cảnh là khoảng thời gian diễn ra cảnh đó. Cậu để ý nhé, chữ số tiếp theo trong ngoặc vuông là số lần màn hình bị tối đen.

    Nét mặt Asakawa đầy vẻ hồ nghi.

    - Tối qua, khi cậu về rồi, tớ đã thử kiểm tra các cảnh khác ngoài cảnh đứa bé xem có bị hiện tượng đen màn hình hay không. Cậu thấy đấy, đây là kết quả: chúng xuất hiện trong những cảnh 3), 4), 8), 10), 11).

    - Thế còn trừu tượng và hiện thực là sao?

    - Ta có thể chia mười hai phân cảnh này thành hai nhóm lớn. Những cảnh trừu tượng mà ta có thể gọi là những cảnh tưởng tượng vì chúng chỉ tồn tại ở trong đầu, và những cảnh hiện thực mà ta có thể nhìn được bằng mắt thường vì chúng tồn tại thật. Tớ phân loại ra như thế.

    Nói đoạn, Ryuji ngừng một lát.

    - Thế nào, cậu có nhận xét gì không?

    - Phải rồi, nhìn thấy màn hình chỉ bị đen trong những cảnh hiện thực.

    - Đúng đấy. Trước tiên, cậu phải ghi nhớ kỹ điểm đó.

    - Này Ryuji, cậu dẹp cái trò sốt ruột ấy đi rồi nói ngay cho mình biết nó có ý nghĩa gì được không?

    - Cậu đừng vội. Việc đưa ra kết luận trước sẽ làm cho trực giác trở nên trì độn. Bằng trực giác, tớ đã đi đến một kết luận. Nhưng một khi đã khăng khăng tin như vậy thì dù cho mọi hiện tượng có xoay đổi cậu cũng sẽ cố tìm cách biện bạch cho nó. Ngay trong lĩnh vực điều tra tội phạm cũng vậy phải không nào? Nếu ngay từ đầu cậu tin rằng thằng đó khả nghi thì mọi chứng cứ đều là để chứng minh nó khả nghi. Tớ muốn cậu kiểm chứng cái kết luận của tớ. Nghĩa là, tớ muốn biết cậu có cùng linh cảm với tớ từ những sự việc này hay không.

    - Hiểu rồi, cậu tiếp tục đi.

    - Bây giờ, cậu hãy nhớ lại cái cảm giác lúc xem cuộn băng và kết hợp với một thực tế là màn hình chỉ bị đen ở những phân cảnh hiện thực. Về cảnh đứa bé thì như tớ đã nói hôm qua. Thế còn những cảnh khác thì sao? Ví dụ như cảnh có rất nhiều mặt người này?

    Ryuji lấy điều khiển từ xa bật lại cảnh đó.

    - Nhìn kỹ những bộ mặt này nhé.

    Vài chục khuôn mặt bị gắn chặt vào tường dần dần lui lại phía sau rồi nhân lên hàng trăm, hàng ngàn cái. Nếu nhìn kỹ từng cái sẽ thấy chúng có nét gì đó khác với những bộ mặt người.

    - Cảm giác thế nào? – Ryuji hỏi.

    - Cứ như bọn chúng đang chửi mình là đồ dối trá, đồ lừa đảo vậy.

    - Thực ra tớ cũng có cảm giác giống cậu, à không, có lẽ là gần như cậu.

    Asakawa tập trung toàn bộ thần kinh để tìm ra cái kết luận mà thực tế này sẽ dẫn tới. Ryuji đang đợi một câu trả lời rõ ràng của gã.

    - Sao? – Ryuji hỏi.

    Asakawa lắc đầu.

    - Chịu thôi, chẳng nảy ra được điều gì hết.

    - Hẳn là cậu sẽ nảy ra cái điều mà tớ đang nghĩ nếu có nhiều thời gian để chiêm nghiệm hơn nữa. Cậu nghe này, cả cậu và tớ đều tưởng tượng những hình ảnh này được ghi lại bởi máy quay phim, nói cách khác là qua ống kính của một cái máy, phải không nào?

    - Chẳng lẽ không phải thế?

    - Thế cái màn đen che phủ màn hình trong tích tắc này là gì?

    Ryuji cho chạy từng khung hình có những đoạn phim bị đen. Liên tục có những đoạn như thế kéo dài từ ba đến bốn khung hình. Độ dài của một khung hình bằng một phần ba mươi giây, vì vậy mỗi đoạn bị đen tương đương với 0,1 giây.

    - Tại sao chúng lại chỉ xuất hiện trong những cảnh có thật mà không phải những cảnh tưởng tượng? Cậu nhìn kỹ đi, đâu phải toàn bộ màn hình đều bị đen.

    Asakawa ghé sát mặt lại màn hình. Quả thực nó không phải là một màu đen đặc. Có cái gì như những vết lấm tấm màu trắng mờ nhạt trên đó.

    - Cái bóng mờ đó chính là dư ảnh. Vì vậy, khi xem những cảnh này, ta có cảm giác sống động như chính mình là người trong cuộc.

    Ryuji chớp mắt một cái rất mạnh trước mặt Asakawa… Màn đen? Màn đen? Hả?

    - Không lẽ, đó là cái chớp mắt? – Asakawa lẩm bẩm.

    - Đúng thế, còn là gì khác được nữa nào? Sẽ rất logic nếu cho rằng như vậy. Con người không những có thể nhìn trực tiếp sự vật bằng mắt mà còn có thể hình dung ra chúng ở trong tâm trí. Khi tưởng tượng, vật thể không đi qua võng mạc nên không xuất hiện những lần chớp mắt. Tuy nhiên, với những cảnh vật nhìn bằng mắt trong thực tế, hình ảnh được tạo thành bởi cường độ mạnh yếu của ánh sáng phản chiếu lên võng mạc. Những lúc như thế, để tránh cho võng mạc khỏi bị khô, chúng ta thường chớp mắt một cách vô thức. Màn đen đó chính là khoảng thời gian mi mắt nhắm lại.

    Cảm giác buồn nôn lại ập đến. Lần đầu tiên khi xem xong, Asakawa đã phải lao vào toilet, vậy mà lúc này cơn ớn lạnh còn dữ dội hơn nhiều. Kẻ nào đó đã ám vào người mình! Ý nghĩ ấy xâm chiếm gã. Những hình ảnh này không phải do máy móc, mà do mắt, tai, mũi, miệng và cảm giác trên da, nghĩa là toàn bộ các giác quan của một con người ghi lại. Có một cái bóng đã nhập vào các giác quan của gã. Chính nó gây ra cái ớn lạnh và cơn rùng mình không thể ngăn lại được này. Gã đã xem đoạn băng bằng cùng ánh mắt với một dị thể trong người gã.

    Lau mãi, lau mãi mà mồ hôi trên trán gã vẫn chảy ra.

    - Cậu biết không, tuy mỗi người mỗi khác song số lần chớp mắt trung bình trong một phút của nam là hai mươi còn của nữ là mười lăm. Vì vậy, rất có thể đây là hình ảnh do một phụ nữ ghi lại.

    Asakawa không nghe thấy gì nữa.

    - Hơ hơ, cậu sao vậy? Trông cái mặt như chết rồi thế kia. – Ryuji cười. – Này, lạc quan lên chút. Chúng ta tiến thêm được một bước rồi còn gì. Nếu quả là những hình ảnh ấy được ghi lại bởi các giác quan của một nhân vật nào đó, thì hẳn là nội dung câu thần chú phải có mối quan hệ với ý muốn của kẻ ấy. Tóm lại, nhân vật này muốn chúng ta làm một điều gì đó.

    Khả năng tư duy của gã hiện thời tê liệt. Tiếng nói của Ryuji tuy có bay tới tai gã nhưng ý nghĩa của nó không thể lọt được vào đầu gã.

    - Vậy là trước mắt những việc cần làm đã rõ ràng. Chúng ta sẽ phải tìm cho ra nhân vật này. Và phải tìm hiểu xem sinh thời…, ờ, vì chắc là không còn sống, kẻ đó mong muốn điều gì. Đó là câu thần chú cho sự sống sót của cậu và tớ.

    Ryuji nháy mắt cho Asakawa như muốn nói: cậu thấy tớ thế nào?

    Chiếc xe Asakawa lái vừa ra khỏi xa lộ Keihin số 3 và lao về phía nam trên con đường nối Yokohama-Yokosuka. Ryuji đang ngả lưng ghế và ngủ ngon lành bên cạnh gã. Đã gần hai giờ chiều, vậy mà Asakawa không hề thấy đói.

    Asakawa rụt lại bàn tay đang định đánh thức Ryuji dậy. Đích đến vẫn còn ở phía trước. Ryuji chỉ bảo gã đi Kamakura mà không giải thích gì hơn, gã cũng không biết là cần phải đến chỗ nào. Không rõ phải đi đâu và để làm gì luôn khiến thần kinh của người giữ lái căng thẳng. Trong lúc vội vã nhét hành lý vào túi, Ryuji bảo sẽ giải thích cụ thể khi vào trong xe, vậy mà vừa mới lên xe, y chỉ kịp nói: “Đêm qua tớ không ngủ nên bao giờ đến Kamakura hẵng đánh thức tớ dậy”, rồi lập tức ngủ mất.

    Họ rời đường Yokohama-Yokosuka ở Asahina rồi chạy khoảng năm cây số nữa theo phố Kanazawa thì đến trước ga Kamakura. Ryuji đã làm một giấc hơn hai tiếng đồng hồ.

    - Này, tới rồi.

    Bị Asakawa lay vai, Ryuji vươn người, lấy mu tay dụi mắt rồi lắc lắc cái mặt như một con mèo.

    - … Làm mất cả giấc mơ đẹp của tớ.

    - Làm gì tiếp đây?

    Ryuji nhỏm người dậy, ngó ra ngoài cửa kính để kiểm tra xem mình đang ở đâu.

    - Cứ đi theo con đường này, rẽ trái ở cổng chính vào đền thờ Hachiman rồi dừng lại.

    Nói đoạn Ryuji cười hề hề: “Tớ phải mơ tiếp đây”, rồi lại định ngả người nằm xuống.

    - Này, đến đó chẳng mất tới năm phút, còn có thời gian cho cậu ngủ sao? Mau giải thích cho mình nghe xem nào.

    - Cứ tới rồi khắc biết.

    Ryuji ghếch đầu gối lên táp-lô và lại chìm vào giấc ngủ.

    Asakawa rẽ trái rồi dừng lại. Ngay trước mặt gã là một ngôi nhà tư hai tầng cũ kỹ có đề dòng chữ nhỏ “Kỷ niệm Đường Miura Tetsuzo”.

    - Cậu cho xe vào bãi đậu đằng kia.

    Không biết Ryuji đã he hé mở mắt từ lúc nào. Bộ mặt y đầy vẻ mãn nguyện và lỗ mũi đang nở ra như thể đánh hơi thấy một mùi hương nào đó.

    - Hề hề, ơn trời, thế nào mà tớ lại mơ tiếp được.

    - Cậu mơ thấy gì? – Asakawa vừa bẻ lái vừa hỏi.

    - Cậu biết rồi còn gì, tớ mơ thấy tớ đang bay trên trời. Tớ khoái nhất là được mơ thấy mình đang bay. – Ryuji khoái trá khịt mũi rồi liếm mép.

    Ngôi nhà với cái tên Kỷ niệm Đường Miura Tetsuzo vắng hoe. Toàn bộ không gian rộng chừng ba mươi ba mét vuông dưới tầng một được trang trí bởi những bức ảnh và thư tịch được lồng trong khung hoặc đặt trong hòm kính, ở bức tường chính giữa là tiểu sử của nhân vật có cái tên Miura Tetsuzo. Đọc qua một lượt, cuối cùng Asakawa cũng biết được nhân vật ấy là người như thế nào.

    - Xin lỗi, có ai ở nhà không ạ? – Ryuji gọi với vào trong. Không có tiếng trả lời.

    Miura Tetsuzo, sau khi thôi làm giáo sư tại trường đại học Y., đã mất ở tuổi bảy mươi hai cách đây hai năm. Chuyên môn là vật lý lý thuyết nhưng ông ta đặc biệt am hiểu về vật lý chất đặc và cơ học thống kê. Tuy nhiên, toà nhà này không phải được dựng lên để tôn vinh những thành tựu trong lĩnh vực chuyên ngành của ông ta là vật lý, cho dù nó khá nhỏ. Mà là cho sự giải mã những hiện tượng phi thường một cách khoa học. Trong tiểu sử có viết: lý thuyết của ông đã gây nên sự chú ý của thế giới, nhưng tất nhiên, chắc đó chỉ là một phần rất nhỏ. Bằng chứng là từ trước đến nay, Asakawa chưa một lần nghe thấy danh tiếng của ông ta. Vậy thì cái lý thuyết mà ông ta phát hiện là gì? Asakawa đi tìm câu trả lời trên những bức tường và các hòm kính. “… ý nghĩ hàm chứa năng lượng và nguồn năng lượng ấy…” Gã đọc tới đó thì từ bên trong vọng ra tiếng bước chân chạy xuống cầu thang. Một người đàn ông ngoại tứ tuần với hàng ria mép mở cánh cửa trượt ra và xuất hiện. Làm theo Ryuji đang cầm danh thiếp và tiến lại gần người đàn ông, Asakawa cũng rút danh thiếp của mình từ túi áo ngực.

    - Chào anh, tôi là Takayama, hiện đang giảng dạy tại đại học K.

  2. MinhThy R.L.G



    Giọng điệu của Ryuji khác hẳn với khi nói chuyện với Asakawa. Gã thấy cái lối giả lả của Ryuji thật ngộ. Asakawa cũng đưa danh thiếp ra. Hết nhìn chiếc này tới chiếc kia, một của giảng viên đại học và một của phóng viên tạp chí, khuôn mặt người đàn ông lộ vẻ hơi khó chịu. Anh ta nhíu mày vì tấm danh thiếp của Asakawa.

    - Nếu không phiền, chúng tôi có thể thỉnh giáo anh một vài việc được không ạ.

    - Số là hồi giáo sư Miura còn sống, tôi có vinh hạnh được gặp giáo sư một lần.

    Không hiểu sao câu nói đó lại khiến nét mặt người đàn ông giãn ra, anh ta đem tới ba chiếc ghế gấp rồi xếp chúng quay mặt vào nhau.

    - Vậy à? Các anh ngồi đi.

    - Cách đây chừng ba năm, tính ra là đúng một năm trước khi giáo sư qua đời, tôi quyết định đến thỉnh chuyện giáo sư nhân một lần nhà trường đánh tiếng hỏi xem tôi có muốn dạy môn phương pháp luận khoa học hay không…

    - Ở ngôi nhà này?

    - Vâng, qua sự giới thiệu của giáo sư Takatsuka…

    Cuối cùng thì người đàn ông cũng nở một nụ cười khi nghe nhắc đến tên giáo sư Takatsuka, vì điểm chung giữa họ đã rõ ràng.

    Hẳn là anh ta đang nghĩ: hai người này cùng phe với mình, chắc không phải những kẻ đến để công kích…

    - Tôi tên là Miura Tetsuaki, xin thứ lỗi cho sự khiếm nhã vừa rồi. Cũng xin lỗi vì danh thiếp của tôi vừa mới hết…

    - Nói vậy thì anh là…

    - Vâng, tôi chính là đứa con kém cỏi của ông.

    - Vậy sao, ồ, tôi không hề nghĩ là giáo sư lại có một đứa con giỏi giang như thế…

    Asakawa phải cố nén để khỏi phì cười vì cái cách Ryuji gọi một người hơn họ đến mười tuổi là “một đứa con giỏi giang”.

    Miura Tetsuaki giới thiệu sơ qua về kỷ niệm đường của cha mình, rằng các học trò của ông đã góp sức biến ngôi nhà mà ông để lại thành một kỷ niệm đường và phân loại các tài liệu thu thập được. Còn về phần mình, anh ta nói với một vẻ pha chút tự trào rằng, anh ta đã không đi theo con đường nghiên cứu mà người bố mong đợi, mà lại bỏ tiền ra xây dựng và kinh doanh một khách sạn nhỏ trên cùng miếng đất với ngôi kỷ niệm đường.

    - Tóm lại là tôi đang lợi dụng danh tiếng và mảnh đất ông cụ để lại, vì thế tôi buộc phải tự gọi mình là một đứa con kém cỏi.

    Tetsuaki nói vậy rồi cười thẹn thùng. Khách sạn của anh ta thường phục vụ cho những chuyến đi xa của đám học sinh cấp ba. Khách trọ hầu hết là thành viên các câu lạc bộ khoa học như câu lạc bộ vật lý, sinh vật, trong số đó còn có cả những cái tên như Hội Nghiên cứu Siêu tâm lý học. Mà chỗ nghỉ trọ của bọn học trò thì cần một chút danh nghĩa. Vì thế, Kỷ niệm Đường Miura Tetsuzo chính là miếng mồi câu bóng bẩy thu hút những đoàn học sinh cấp ba tới nghỉ.

    - Chuyện là thế này anh ạ. – Ryuji sửa lại tư thế ngồi và tìm cách đưa câu chuyện trở về quỹ đạo.

    - Ấy chết, tôi xin lỗi vì cứ huyên thuyên những chuyện không đâu… Vậy tôi có thể giúp gì được các anh?

    Như thế đủ thấy Tetsuaki chẳng có chút tài năng nào của một nhà khoa học. Nhìn nghiêng, nét mặt lộ đầy vẻ khinh bỉ của Ryuji tuồng như muốn nói: cái thái độ vuốt đuôi kiểu con buôn hợp với thằng cha này lắm.

    - Chẳng là chúng tôi đang đi tìm một nhân vật.

    - Là ai vậy?

    - Chúng tôi chưa biết, chính vì thế nên chúng tôi mới tới đây.

    - Ái chà, như vậy nghĩa là…, à, anh cứ nói tiếp đi…

    Tetsuaki nhíu mày bối rối như thể giục khéo Ryuji trình bày câu chuyện một cách dễ hiểu hơn.

    - Tôi không dám chắc chắn nhân vật này còn sống hay đã chết. Chỉ biết rõ một điều rằng, kẻ đó sở hữu một sức mạnh mà người thường không thể nào có được.

    Nói đến đây Ryuji ngừng một hơi và nhìn xoáy vào Tetsuaki. Dường như ngay lập tức Tetsuaki hiểu ra rằng, “sức mạnh mà người thường không thể nào có được” nghĩa là gì.

    - Giáo sư Miura là nhà sưu tập hàng đầu Nhật Bản trong lĩnh vực này. Trước đây, tôi có nghe giáo sư nói rằng, bằng mạng lưới riêng của mình, giáo sư đã lập danh sách những người có khả năng thần bí trên toàn nước Nhật và vẫn còn cất giữ những tài liệu đó.

    Mặt Tetsuaki sầm lại. Anh ta nghĩ bụng: không phải bọn người này đến để nhờ mình tìm cho họ một nhân vật trong đống tài liệu ấy đấy chứ?

    - Vâng, tất nhiên là các tập hồ sơ vẫn còn được lưu giữ. Nhưng, phần lớn bọn họ là những kẻ lừa đảo, vả lại khối lượng hồ sơ không phải là nhỏ.

    Tetsuaki chợt rùng mình khi hình dung tới việc phải lật giở đám hồ sơ ấy một lần nữa. Mười mấy học trò của ông đã phải mất vài tháng mới phân loại xong. Cũng bởi theo di nguyện của người quá cố, họ đã giữ lại cả những tài liệu không đủ căn cứ thành thử mới lên tới con số khổng lồ như vậy.

    - Ồ, chúng tôi đâu dám phiền anh như thế. Nếu anh cho phép, hai chúng tôi sẽ tự mình tìm lấy.

    - Chúng nằm trong kho trên tầng hai, trước tiên mời các anh lên xem.

    Tetsuaki đứng dậy. Bọn họ chưa biết chúng nhiều thế nào nên dám nói vậy, chứ chỉ cần thấy cái giá sách la liệt những thứ ấy thì không nản mới lạ. Tetsuaki vừa nghĩ như vậy vừa đưa hai người lên tầng hai.

    Trần nhà của căn phòng đó khá cao, sát bức tường đối diện với lối lên cầu thang là hai hàng giá sách bảy tầng được kê cạnh nhau. Có bốn mươi tập tài liệu trong mỗi quyển kẹp hồ sơ, mà nhìn qua cũng tính được có đến vài nghìn quyển… Chẳng biết Ryuji ra sao chứ mặt Asakawa thì không còn giọt máu.

    … Đốt thời giờ vào đống hồ sơ này thì chỉ còn nước chết mục trong cái nhà kho tối tăm này mà thôi.

    Thế rồi, gã kêu thầm trong bụng: “Không còn cách nào khác nữa sao?”

    - Xin phép anh cho chúng tôi xem qua một chút. – Ryuji thản nhiên nói.

    - Xin mời, các anh cứ tự nhiên…

    Mặc dù đã hơi chán nản, Tetsuaki vẫn đứng nán lại quan sát hai người một lúc vì tò mò muốn biết rốt cuộc họ đang định tìm kiếm cái gì, thế nhưng đến nước này thì quả thực anh ta ngán ngẩm quá rồi.

    - Tôi xin phép vì còn có chút việc. – Nói vậy rồi anh ta rời chỗ.

    Khi chỉ còn hai người, Asakawa hỏi Ryuji.

    - Này, cậu giải thích xem chuyện là như thế nào.

    Giọng Asakawa hơi ồm ồm vì phải ngẩng cổ lên để nhìn cái giá xếp đầy hồ sơ. Kể từ lúc bước vào kỷ niệm đường, đây là lần đầu tiên gã cất tiếng. Các tập hồ sơ được xếp theo năm, ngày tháng ghi trên những miếng bìa gáy bắt đầu từ năm 1956 và kết thúc vào năm 1988. Năm 1988, chính là năm tiến sỹ Miura qua đời. Cái chết đã khép lại công cuộc sưu tầm suốt ba mươi hai năm trời của ông.

    - Không còn thời gian, chúng ta vừa tìm vừa nói chuyện. Tớ sẽ tìm từ năm 1956 trở đi, còn cậu bắt đầu cho tớ từ năm 1960.

    Asakawa rút bừa một quyển ra và thử giở mấy tờ. Trang nào cũng có ít nhất một bức ảnh và một mẩu giấy ghi lại vài dòng chú thích đơn giản, địa chỉ và danh tính.

    - Cậu bảo mình tìm, nhưng tìm cái gì bây giờ?

    - Nhớ chú ý tên và địa chỉ. Nhặt ra những người nào là nữ sống trên đảo Izu Oshima.

    - Sao phải là nữ? – Asakawa chau mày khó hiểu.

    - Thế theo cậu thì câu nói: “sang năm cháu sẽ sinh con” của bà già ấy là để nói với ai?

    Đúng là đàn ông không đẻ được con.

    Dẹp mọi chuyện khác sang bên, hai người bắt đầu tìm kiếm. Vừa lặp đi lặp lại một thao tác đơn điệu, Ryuji vừa cắt nghĩa cho câu hỏi của Asakawa rằng tại sao lại có những tập hồ sơ này.

    Bước vào những năm năm mươi, với mối quan tâm lớn tới hiện tượng siêu tự nhiên, tiến sỹ Miura bắt đầu tiến hành những thí nghiệm siêu năng lực, tuy nhiên các kết quả thiếu tính ổn định đã khiến một học thuyết khoa học chưa thể ra đời. Ngay cả đối với khả năng thấu thị, sự thiếu ổn định như vậy cũng thường xuyên xảy ra, khi trình diễn trước mắt công chúng, người ta bỗng nhiên không thể thực hiện được cái khả năng mà mới đó còn làm được. Mọi chuyện cho thấy rằng cần phải có một sức tập trung không nhỏ để phát huy những khả năng này. Tuy nhiên, điều mà tiến sỹ Miura đòi hỏi là một nhân vật có thể phát huy những khả năng đó ở mọi lúc và ở mọi nơi. Ông hiểu rằng nếu thất bại trước mặt đám đông, bản thân ông sẽ không tránh khỏi bị gọi là một tên lừa đảo. Vì vậy, tin chắc rằng vẫn còn tiềm ẩn những người có năng lực siêu nhiên trên thế giới, ông đã quyết định đi tìm họ. Vấn đề là cần phải tìm bằng phương pháp nào? Tất nhiên, không thể kiểm chứng khả năng thấu thị, khả năng tiên tri, năng lực viễn khiển bằng cách gặp
    mặt từng người một. Vậy là ông nảy ra một sáng kiến: ông gửi một tấm phim được niêm phong cẩn mật tới những nhân vật được cho là có khả năng này, yêu cầu họ dùng ý nghĩ của mình để in lên đó một hình vẽ mà ông chỉ định rồi gửi lại cho ông trong trạng thái vẫn dán kín. Với cách ấy, ông có thể kiểm tra được khả năng của ngay cả những người ở cách ông rất xa. Hơn nữa, chụp ảnh bằng ý nghĩ là một khả năng khá cơ bản, người có khả năng này thường đồng thời có khả năng tiên tri hoặc thấu thị. Năm 1956, tiến sỹ Miura bắt đầu chiêu mộ rộng rãi những người có khả năng đặc biệt từ khắp nước với sự giúp sức của các học trò đang làm việc tại các nhà xuất bản và toà soạn báo. Khi nghe thấy tin đồn về những người có khả năng này thông qua mạng lưới của mình, các học trò sẽ báo cáo lại cho ông. Tuy nhiên, việc kiểm tra bằng phương pháp ấy cho thấy số người có khả năng thực sự chỉ chiếm chưa quá một phần mười, còn lại phần lớn các tấm phim đều bị bóc ra và đánh tráo một cách khéo léo. Ông quyết định tiêu huỷ ngay tại chỗ nhữ
    ng tấm phim được xác định là bịp bợm và cố gắng giữ lại những tấm phim chưa thể kiểm chứng rõ ràng. Kết quả là đã hình thành nên một bộ sưu tập không thể quản lý nổi như thế này. Sau đó, cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự gia tăng về số lượng học trò, mạng lưới của ông mỗi ngày một hoàn thiện hơn, các số liệu liên tục dày theo năm tháng cho tới khi tiến sỹ qua đời.

    - Ra vậy… – Asakawa lẩm bẩm. – Mình hiểu ý nghĩa của bộ sưu tập này rồi. Nhưng làm sao cậu biết được trong đó có cái kẻ mà chúng ta đang tìm kiếm?

    - Ai bảo cậu là tớ khẳng định như thế. Tớ chỉ nói là rất có thể thôi. Nghe này, cậu hiểu một kẻ làm được những điều như vậy là thế nào không? Ừ thì cũng có vài ba kẻ có thể chụp ảnh bằng ý nghĩ. Nhưng một kẻ có thể đưa hình ảnh vào trong bóng hình ti vi mà không dùng bất cứ thiết bị nào thì quả là hiếm. Đó là một siêu siêu năng lực cậu hiểu chưa? Một kẻ có khả năng như vậy cho dù có sống một cách hết sức bình thường cũng không thể tránh khỏi sự chú ý của xung quanh. Tớ không nghĩ là mạng lưới của tiến sỹ Miura lại có thể bỏ qua một đối tượng lù lù trước mắt như vậy được.

    … Vậy là có cơ may. Ngay cả Asakawa cũng thừa nhận điều này. Gã cảm thấy những ngón tay đang lật giở hồ sơ trở nên mạnh mẽ hơn.

    - Nhưng tại sao mình lại phải lục tìm từ những tệp hồ sơ năm 1960? – Bất chợt nhớ ra, Asakawa ngẩng đầu lên hỏi.

    - Cậu còn nhớ chiếc ti vi trong đoạn băng ấy chứ? Nó là một chiếc ti vi đời cũ, thuộc thế hệ sơ khai của máy truyền hình, khoảng những năm năm mươi tới đầu sáu mươi.

    - Thế thì sao? Chả giải quyết được vấn đề gì…

    - Cậu thật rầy rà, chẳng phải tớ đã nói rằng đó là vấn đề cơ may hay sao?

    Asakawa tự nhắc nhở mình rằng suốt từ lúc nãy tới giờ gã đã quá nóng ruột. Nhưng như thế cũng hợp lẽ. Thời gian không còn nhiều nữa, lại phải lục lọi đống hồ sơ khổng lồ này nữa, như thế mà bình tĩnh được mới là lạ.

    Đúng lúc ấy, dòng chữ “Izu Oshima” đập vào mắt gã.

    - Ái chà, đây rồi!

    Tiếng kêu của gã như thể vừa tóm cổ được một con ma. Ryuji giật mình quay lại ngó vào tập hồ sơ.

    … Motomachi, Izu Oshima. Tsuchida Teruko. 37 tuổi. Bưu ấn đề ngày 14 tháng Hai năm 1960. Một bức ảnh đơn sắc có hình tia chớp chạy sáng trắng trên nền đen. Phần chú thích ghi: “Đây là kết quả nhận được khi gửi đi yêu cầu dùng ý nghĩ để chụp hình chữ thập. Không có dấu vết đánh tráo.”

    - Cậu thấy sao? – Asakawa phấn khích lắc lư người trong lúc chờ đợi phản ứng của Ryuji.

    - … Không phải là không có khả năng. Trước mắt, cậu cứ ghi lại địa chỉ và họ tên cái đã.

    Chỉ nói có vậy rồi Ryuji lại quay trở về với tập hồ sơ của mình. Tuy đã phấn chấn hơn vì ngay lập tức phát hiện ra một đối tượng đầy hứa hẹn song Asakawa cũng không khỏi bất mãn trước phản ứng lạnh nhạt của Ryuji.

    Đã hai giờ đồng hồ trôi qua. Kể từ lúc đó họ không còn phát hiện thêm một phụ nữ nào có nguồn gốc từ đảo Izu Oshima nữa. Địa chỉ của người gửi phần lớn là ở Tokyo hoặc những khu vực ven vùng Kanto. Tetsuaki xuất hiện với hai ly trà, trước khi bỏ đi, anh ta còn để lại mấy câu hàm ý mỉa mai. Đã hai tiếng đồng hồ mà chưa giải quyết hết chỗ tư liệu của một năm, bàn tay hai người mỗi lúc một uể oải hơn.

    Đã tìm xong năm 1960. Trước khi chuyển sang năm 1961, Asakawa đưa mắt qua phía Ryuji. Y đang ngồi xếp bằng và gục mặt xuống tập hồ sơ mở rộng mà không hề nhúc nhích. Hắn lại ngủ rồi, nghĩ vậy Asakawa vừa định đưa tay ra thì có tiếng y rên lên đầy thảm thiết.

    - Đói chết mất. Này, mua hộ tớ hộp cơm với trà Ô Long về đây được không? Nhân tiện đặt luôn một phòng ở Le Petite Pension Soleil đêm nay nhé.

    - Cái quái quỷ gì vậy.

    - Là khách sạn của thằng cha lúc nãy ấy mà.

    - Ai chả biết, nhưng tại sao lại phải ngủ với cậu cơ chứ…

    - Cậu không thích à?

    - Nhưng mình không có thời gian, mình không thể ung dung ngủ lại khách sạn lúc này được.

    - Ừ, thì cứ cho là cậu đã tìm thấy người đàn bà đó rồi đi, nhưng cậu định đi Oshima ngay bây giờ chắc? Hôm nay phải nằm lại đây thôi. Tốt hơn hết là đánh một giấc thật đẫy cho lại sức cái đã.

    Asakawa cảm thấy không còn gì ghê tởm hơn khi phải ở chung khách sạn với Ryuji, nhưng đành vậy, gã chạy đi mua cơm, nói với Miura Tetsuaki rằng họ sẽ nghỉ lại đêm nay, rồi ngồi nhai cơm hộp và uống trà Ô Long với Ryuji. Bảy giờ tối, hai người tạm nghỉ tay.

    Hai cánh tay và bả vai mỏi nhừ. Asakawa gỡ kính ra cho khỏi nhức mắt. Bù lại, gã gí sát mặt vào tập hồ sơ rồi lần tìm như thể đang liếm chúng. Việc tập trung thần kinh cao độ để không sơ sểnh bỏ qua bất cứ chi tiết nào càng khiến gã mệt mỏi hơn.

    Chín giờ tối. Giữa căn phòng lặng ngắt bỗng vang lên tiếng kêu thất thanh của Ryuji.

    - Tìm được rồi. Hoá ra nó nằm ở đây.

    Bị thu hút, Asakawa ngồi xuống cạnh Ryuji và đeo lại kính lên mắt.

    … Sashikichi, Izu Oshima. Yamamura Sadako. Mười tuổi. Bưu ấn trên bì thư đề ngày 29 tháng Tám năm 1956. Cùng với một tấm ảnh có chữ Yama màu trắng nổi lên trên nền đen là lời chú thích: “Đây là kết quả nhận được khi gửi đi yêu cầu dùng ý nghĩ để chụp tên mình lên phim. Khẳng định tấm phim hoàn toàn là thật.”

    Asakawa nhận ra con chữ ấy.

    - Đúng… đúng là nó. – Giọng gã run lên.

    Trong đoạn băng, cảnh phim có chữ Yama diễn ra ngay sau cảnh phun trào của núi lửa Mihara. Và ở cảnh thứ mười, chữ Sada đã hiện lên trong chiếc ti vi đời cũ. Mà tên đứa bé gái này lại là Yamamura Sadako.

    - Cậu nghĩ sao? – Ryuji hỏi.

    - Đúng là nó rồi, không sai được.

    Cuối cùng thì những tia hy vọng cũng được nhen lên. Biết đâu vẫn còn kịp, ý nghĩ ấy bất chợt thoáng qua trong óc gã.
  3. MinhThy R.L.G

    6.

    Thứ Ba, ngày 16 tháng Mười

    10:15 sáng, Asakawa và Ryuji đang ở trên chiếc tàu cao tốc vừa rời cảng Atami. Không có phà nối đảo Oshima với đất liền, vì vậy họ đành phải gửi lại ô tô ở bãi đỗ xe bên cạnh khách sạn Atami Korakuen. Tay trái Asakawa vẫn đang nắm chặt chiếc chìa khoá.

    Theo dự định, thuyền sẽ tới đảo Oshima sau một tiếng. Trời sắp mưa, gió cũng nổi lên khá mạnh. Chẳng có mấy hành khách lên boong, hầu như mọi người đang ngồi co ro trên ghế. Vì phải quáng quàng mua vé nên họ đã không thể xác nhận thông tin một cách đầy đủ, nhưng dường như có một cơn bão đang tiến lại gần. Sóng dằn mạnh, con thuyền cũng chao đảo hơn.

    Vừa nhâm nhi lon cà phê nóng bỏng, Asakawa vừa điểm lại những diễn biến vừa qua trong đầu. Gã không biết nên khen ngợi mình vì sự kiên cường cho đến lúc này, hay nên tự trách mình vì đã không thể tìm ra cái tên Yamamura Sadako và tới đảo Oshima sớm hơn. Vì toàn bộ chìa khoá của vấn đề nằm ở chỗ: có nhận ra hay không lớp màng đen che phủ màn hình trong thoáng chốc ấy chính là một cái chớp mắt. Nếu đúng là đoạn băng ấy không phải được ghi lại bằng máy quay video mà bằng các giác quan của một con người, và đúng là nhân vật đó đã dùng thuật ghi hình bằng ý nghĩ trong lúc đầu máy video đang chạy tại ngôi biệt thự B-4 của Villa Log Cabin, thì siêu năng lực của kẻ đó không thể lường hết được. Chú ý tới đặc điểm nổi bật khác với người thường này, Ryuji đã thành công trong việc tìm ra tung tích của kẻ đó. Nhưng, đã chắc gì Yamamura Sadako là thủ phạm. Tất cả mới chỉ là nghi vấn. Và bọn gã đang trên đường tới đảo Oshima để làm rõ nghi vấn này.

    Sóng xô mạnh con thuyền. Một linh cảm xấu bỗng ập xuống Asakawa. Liệu có sáng suốt không khi cả hai người cùng tới đảo Oshima? Ai sẽ cứu vợ con gã nếu bọn họ mắt kẹt trên Oshima vì bão? Hạn chót của gã đang đến gần: 10:40 tối ngày kia.

    Cơ thể Asakawa mỗi lúc một co rúm lại mặc cho lon cà phê đang hâm nóng hai tay.

    - Mình vẫn chưa tin. Làm sao con người có thể làm được việc đó.

    - Vấn đề đâu phải tin hay không. – Ryuji trả lời trong khi vẫn nhìn xuống tấm bản đồ Oshima. – Vấn đề là cậu đang phải đối mặt với thực tế. Cậu nên hiểu, cái mà chúng ta nhìn thấy được chỉ là một phần của hiện tượng biến hoá không ngừng.

    Ryuji đặt tấm bản đồ lên đầu gối.

    - Cậu biết Big Bang chứ? Người ta cho rằng vũ trụ ra đời từ một vụ nổ khủng khiếp cách đây hai mươi tỷ năm. Tớ có thể biểu diễn lại những biến thiên của vũ trụ từ khi hình thành cho tới nay bằng các công thức toán học, nói một cách cụ thể là phương trình vi phân. Cậu phải biết rằng hầu hết các hiện tượng của vũ trụ này đều có thể biểu diễn dưới dạng phương trình vi phân. Với phương pháp này, hình dáng của vũ trụ cách nay mười tỷ năm, hai mươi tỷ năm, thậm chí một giây cho đến 0,1 giây sau vụ nổ cũng sẽ được làm sáng tỏ. Thế nhưng, chúng ta sẽ không bao giờ biết được cái thời khắc bằng 0, tức là cái tích tắc xảy ra vụ nổ, cho dù chúng ta có dùng mọi cách để lội ngược dòng thời gian và cố gắng mô phỏng nó. Còn một chuyện nữa, đó là vũ trụ của chúng ta sẽ kết thúc như thế nào… Vũ trụ này là mở hay đóng? Chúng ta sẽ không bao giờ biết được sự khởi đầu và kết thúc, chúng ta chỉ biết được những gì đang diễn ra ở khoảng giữa của nó mà thôi. Cậu không thấy đời người cũng giống vậy sao?

    Nói rồi Ryuji vỗ vỗ vào cánh tay Asakawa.

    - Cậu nói phải, khi xem lại album, mình cũng phần nào hình dung được hồi ba tuổi hay lúc mới sinh nom mình ra sao.

    - Đúng không? Nhưng con người không bao giờ biết được trước khi chào đời và sau khi chết đi thì như thế nào.

    - Sau khi chết? Thì chết rồi là hết, là chẳng còn gì nữa chứ sao?

    - Cậu đã chết bao giờ chưa?

    - Chưa. – Asakawa thành thật lắc đầu. – Ý cậu là linh hồn có thật?

    - Tớ chỉ có thể nói rằng tớ không biết. Nhưng khi xét tới sự chào đời của một sinh mệnh, tớ cảm thấy mọi thứ sẽ dễ dàng hơn với việc giả định rằng linh hồn tồn tại. Còn giới sinh vật học phân tử hiện đại thì toàn nói bậy. Cậu biết cánh đó nói gì không? “Chỉ cần cho hơn hai mươi loại a-xit a-min, mỗi loại vài trăm đơn vị vào một cái âu, vừa khoắng tít vừa rắc lên đó mấy vốc năng lượng điện, ấy thế là chúng ta đã có ngay được chất đạm, cái gốc của sự sống”. Bọn chúng nói vậy đấy. Cậu tin được không? Xằng bậy. Thà nói đại rằng chúng ta là những tạo vật của Thượng Đế cho dễ hiểu. Còn tớ thì tin rằng, có một dạng thức năng lượng hoàn toàn khác, mà chính xác hơn là một loại ý chí nào đó đã hoạt động đúng vào cái thời khắc mà chúng ta ra đời.

    Hơi ghé mặt về phía Asakawa, Ryuji đột ngột chuyển chủ đề.

    - Này, lúc ở kỷ niệm đường, xem chừng cậu có vẻ say sưa với các trước tác của ông giáo sư ấy nhỉ. Có phát hiện ra điều gì lý thú không?

    Gã chợt nhớ ra là gã đang đọc dở dang. Học thuyết của tiến sỹ nói rằng… ý nghĩ hàm chứa năng lượng và năng lượng ấy…

    - Hình như ông ta viết rằng ý nghĩ là năng lượng hay cái gì đại loại thế.

    - Đoạn tiếp theo là gì?

    - Mình không có thời gian đọc hết.

    - Hề hề, thật đáng tiếc, phần hấp dẫn nhất lại nằm ở phía sau. Cái cách bố già ấy trình bày thản nhiên và rất có lý về những người mà người bình thường nào cũng sẽ sốc khi nghe tới sẽ làm cậu khoái ra trò. Nhưng tóm lại, bố già ấy muốn nói rằng ý thức là một thực thể sống có năng lượng.

    - Cái gì? Nghĩa là những suy nghĩ trong đầu chúng ta sẽ biến thành một thực thể sống?

    - Đúng là như thế.

    - Thế thì cực đoan quá.

    - Chính xác là cực đoan, nhưng có một chủ thuyết tương tự đã được bàn đến suốt từ trước công lịch cho tới nay. Cũng không loại trừ đây là một biến thái của thuyết sức sống (Vitalism).

    Nói đến đó, Ryuji bỗng không còn hào hứng với câu chuyện và lại quay về với tấm bản đồ Oshima.

    Không phải gã không hiểu Ryuji định nói gì. Nhưng gã vẫn chưa hết thắc mắc. Họ không thể lý giải bằng khoa học cái thực tế mà họ đang phải đối mặt lúc này. Song vì nó là hiện thực, nên họ chỉ còn cách hành xử theo hiện tượng bên ngoài cho dù không biết được mối quan hệ nhân quả. Việc họ cần làm trước tiên là giải mã câu thần chú và thoát ra khỏi vòng vây của thần chết chứ không phải đi tìm lời giải cho sự bí ẩn của những năng lực siêu nhiên. Gã đồng ý là như thế. Nhưng gã cần ở Ryuji một câu trả lời minh xác hơn.

    Càng ra xa con thuyền càng lắc mạnh. Asakawa bắt đầu lo mình bị say sóng. Gã thấy rất rõ cảm giác nôn nao trong người. Đang lơ mơ ngủ, bất thần Ryuji ngẩng mặt nhìn ra bên ngoài. Biển một màu xanh xám đậm dậy sóng, phía trước, bóng dáng hòn đảo hiện ra mờ tỏ.

    - Asakawa này, tớ vẫn thấy khúc mắc một chuyện.

    - Chuyện gì?

    - Tại sao bốn đứa nhóc không thực hiện câu thần chú?

    … Tưởng gì, hoá ra chuyện đó.

    - Nó rành rành ra đấy còn gì? Vì bọn chúng không tin vào nội dung của cuốn băng.

    - Tất nhiên, tớ cũng đã từng cho là như vậy. Và chính vì thế mà bọn chúng mới chơi cái trò nghịch dại là xoá đi câu thần chú. Nhưng mà đột nhiên tớ lại nhớ ra một chuyện. Hồi ở trung học, vào một đêm ngủ chung trong chuyến dã ngoại của nhóm điền kinh, thằng Saito đã lao như tên bắn vào trong phòng. Cậu còn nhớ chứ, cái thằng Saito cớm nắng ấy? Cả nhóm có mười hai đứa, đều ngủ trong một phòng. Lúc lao vào phòng, hắn la lớn lên là có ma trong khi răng vẫn đánh vào nhau cầm cập. Hắn bảo, lúc vừa mở cửa toilet ra thì bỗng nhiên hắn nhìn thấy khuôn mặt đang khóc của một đứa bé gái ở chỗ cái bóng của chiếc thùng rác bên cạnh la-va-bô. Trừ tớ ra, cậu biết mười đứa còn lại phản ứng như thế nào không?

    - Chắc là năm thằng tin còn năm thằng thì cười nhạo chứ gì?

    Ryuji lắc đầu.

    - Thế giới phim kinh dị hoặc truyền hình thì như thế. Đó là cái mô típ kiểu như ban đầu sẽ chẳng ai tin, thế rồi con quái vật sẽ tấn công từng người từng người một… Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Mười thằng đó, chẳng chừa đứa nào, đều tin lời hắn cả. Đừng nghĩ chúng quá nhát gan. Các cuộc thử nghiệm với những nhóm khác cũng cho cùng kết quả. Nỗi sợ hãi mang tính căn nguyên đã được tạo lập sẵn trong bản năng con người rồi.

    - Ý cậu cho rằng bốn đứa trẻ không tin vào đoạn băng là không bình thường?

    Nghe Ryuji nói, Asakawa chợt nhớ lại nét mặt khóc thét của con gái khi nhìn thấy chiếc mặt nạ, và cả mối băn khoăn vào lúc ấy rằng, tại sao con bé lại biết sợ mặt nạ quỷ?

    - Tớ không nói vậy, thực ra đoạn phim đó không có cốt truyện cũng chẳng đáng sợ cho lắm. Nên khả năng bọn chúng không tin là không thể phủ nhận. Nhưng chẳng lẽ bọn chúng không thấy bận tâm chút nào? Là cậu thì cậu sẽ tính sao? Nếu thực hiện câu thần chú mà thoát được cái chết, liệu cậu có thử làm không, mặc dù có thể không tin? Có gì lạ đâu nếu một trong số bọn chúng chơi trò ăn mảnh. Đành rằng lúc đó nó phải cố tỏ ra can đảm trước mặt ba đứa khác, nhưng về Tokyo nó vẫn có thể kín đáo thực hiện cơ mà.

    Cái linh cảm xấu trong gã lại tăng lên. Thực ra, bản thân Asakawa cũng đã từng nghĩ tới điều này.

    … Nếu thần chú là một thứ không thể thực hiện được thì sao?

    - Có thể rằng đó là một mệnh lệnh bất khả thi nên chúng đã tự thuyết phục mình theo chiều hướng không tin vào nó?

    Lúc ấy, trong óc gã bỗng nảy ra một tình huống như thế này. Có thể, đứa bé gái đã bị một kẻ nào đó sát hại và nó muốn gửi đi thông điệp ấy hòng mượn tay người khác rửa hận cho mình…

    - Tớ biết cậu đang nghĩ gì. Và nếu quả là như vậy thì cậu sẽ hành động ra sao?

    Nếu câu thần chú là một mệnh lệnh kiểu như hãy giết chết một ai đó thì liệu rằng gã có thể cướp đi sự sống của một con người không hề quen biết để cứu lấy sinh mệnh của mình không? Asakawa tự vấn. Nhưng còn một vấn đề bức thiết hơn, ấy là ai sẽ thực hiện câu thần chú khi mà sự thật là như thế? Asakawa lắc mạnh đầu. Gã không nên nghĩ tới những chuyện ngu ngốc như vậy. Gã chỉ còn biết cầu mong để những yêu cầu của cái kẻ tên Yamamura Sadako là thứ mà ai cũng có thể thực hiện được.

    Những đường nét của hòn đảo đã rõ ràng, con thuyền chầm chậm xoay hướng để cập vào cầu cảng Motomachi.

    - Này Ryuji, mình muốn nhờ cậu một chuyện. – Giọng Asakawa rành rọt.

    - Gì thế?

    - Nếu mình không còn đủ thời gian, nghĩa là… – Asakawa không muốn nhắc đến chữ chết. – Nếu cậu tìm ra chân tướng của câu thần chú vào ngày hôm sau, thì cậu hãy…

    Ryuji không để gã nói hết.

    - Tất nhiên. Để đó cho tớ. Tớ sẽ có trách nhiệm cứu vợ và cún con nhà cậu.

    Asakawa chìa ra tấm danh thiếp mà gã đi ghi ở mặt sau một số điện thoại.

    - Mình định gửi vợ con về nhà ngoại ở Ashikaga cho tới khi giải quyết xong vụ này, đây là số điện thoại nhà vợ mình. Mình đưa luôn cho cậu kẻo quên.

    Ryuji nhét tấm danh thiếp vào trong túi mà không thèm nhìn.

    Nhà tàu thông báo thuyền đã cập cảng Motomachi. Asakawa gọi điện cho vợ từ trên cầu cảng hòng thuyết phục cô về nhà bố mẹ đẻ ít lâu. Gã không biết khi nào mình mới có thể trở lại Tokyo. Chưa biết chừng gã sẽ phải đón cái kết cục của mình ở trên đảo Oshima này. Gã không sao chịu được khi tưởng tượng ra cảnh vợ con đang sống trong sợ hãi nơi căn hộ chung cư chật hẹp.

    Ryuji cất tiếng hỏi trong khi bước xuống cầu tàu.

    - Này Asakawa, cậu thương vợ con đến thế cơ à?

    Một câu hỏi chẳng có vẻ gì là Ryuji khiến gã bật cười.

    - Ngay cả cậu rồi cũng sẽ hiểu tại sao.

    Tuy nhiên, Asakawa không nghĩ rằng Ryuji sẽ có được một gia đình tử tế.
  4. MinhThy R.L.G

    7.

    Đứng trên cầu cảng Oshima, gió lộng hơn ở Atami. Ngẩng mặt lên trời, Asakawa thấy nhiều đám mây hối hả bay từ tây sang đông, những con sóng xô mạnh vào thành cầu làm khối bê tông rung lên dưới chân gã. Mưa chưa lớn, nhưng đã có những giọt nước được gió mang theo rơi thẳng xuống mặt. Hai người không mang ô, đút hai tay vào túi, so vai và rảo bước thật nhanh theo chiếc cầu tàu thò ra biển.

    Nhiều người dân đảo cầm những tấm biển cho thuê xe hơi hoặc những lá cờ phướn của quán trọ đang đứng chờ du khách. Asakawa ngẩng đầu lên và đưa mắt tìm một người đã hẹn trước. Trước khi lên tàu cao tốc rời cảng Atami, gã đã nhờ toà soạn cung cấp số điện thoại của ban tin tức Oshima và thỉnh cầu sự hợp tác của một cộng tác viên tên là Hayatsu. Chưa có tờ báo nào đặt phân xã ở Oshima, thay vào đó, họ thuê người địa phương làm cộng tác viên. Cộng tác viên có nhiệm vụ theo dõi mọi diễn biến trên đảo và liên lạc về tổng xã nếu phát hiện thấy những sự kiện hay những mẩu chuyện đặc biệt. Tất nhiên, sự hợp tác của họ là không thể thiếu trong những trường hợp phóng viên của tổng xã ra tác nghiệp trên đảo. Với trường hợp của Hayatsu, ông về ở hẳn trên đảo Oshima sau khi thôi làm việc cho báo M. Phạm vi phụ trách của ông là toàn bộ bảy hòn đảo thuộc quần đảo Izu nằm về phía nam thị trấn Oshima, ông được phép trực tiếp viết bài và gửi về toà soạn mà không cần chờ phóng viên của tổng xã mỗi khi diễn ra sự kiện nào dó. Bản thân Hayatsu nắm giữ một mạng lưới đưa tin riêng trên đảo, vì thế, công việc điều tra của gã chắc chắn sẽ tiến triển nhanh hơn nếu có được sự cộng tác của người này.

    Hayatsu vui vẻ chấp nhận lời đề nghị của Asakawa qua điện thoại và hứa sẽ ra đón họ tại cầu cảng. Vì không biết mặt nhau nên Asakawa thông báo với Hayatsu rằng họ đi hai người và mô tả sơ qua về đặc điểm cơ thể của mình.

    - Xin lỗi có phải anh là Asakawa?

    Có giọng nói cất lên từ phía sau.

    - Vâng, là tôi đây.

    - Tôi là Hayatsu, làm việc ở ban tin tức Oshima.

    Hayatsu vừa đưa ô lên che vừa chào họ với một nụ cười dễ mến.

    - Xin lỗi bác vì đường đột quá.

    Vừa bước đi Asakawa vừa giới thiệu Ryuji rồi họ nhanh chóng leo lên xe ô tô của Hayatsu. Không thể nói chuyện bên ngoài xe vì tiếng gió rít ù ù. Lòng xe khá rộng so với một chiếc ô tô hạng nhỏ. Asakawa ngồi lên ghế phụ còn Ryuji ngồi ở băng sau.

    - Chúng ta đến thẳng nhà Yamamura Takashi chứ? – Hayatsu hỏi, hai tay đặt trên vô lăng. Đã hơn sáu mươi nhưng tóc ông vẫn khá dày, tuy có nhiều sợi bạc.

    - Bác đã tìm được nhà Yamamura Sadako rồi ạ?

    Trên điện thoại, Asakawa đã nói qua với Hayatsu về ý định điều tra một nhân vật có cái tên Yamamura Sadako.

    - Vì ngôi làng ấy nhỏ lắm. Nói đến họ Yamamura ở Sashikichi thì chỉ có một thôi nên tôi tìm thấy ngay. Nhà Yamamura vốn làm nghề đánh cá, tuy vậy vào mùa hè cũng có kinh doanh thêm nhà trọ. Hay là đêm nay tôi để các anh nghỉ lại đó… Để các anh ở lại nhà tôi cũng được nhưng phải cái chật chội và bừa bộn quá, chỉ sợ làm phiền hai người…

    Hayatsu nói vậy rồi cười. Ông sống cùng với vợ. Quả tình ông không nói dối, nhà ông chẳng đủ chỗ để mời hai vị khách ngủ lại. Asakawa quay lại sau nhìn Ryuji.

    - Tớ thì sao cũng được.

    Hayatsu tăng tốc cho xe phóng thẳng về phía Sashikichi, ngôi làng nằm ở cực nam của đảo. Nói là tăng tốc chứ chẳng chạy được nhanh, vì đường vành đai lượn quanh đảo vừa hẹp vừa lắm khúc cua. Những chiếc xe chạy ngược chiều phần lớn là xe hạng nhỏ. Tầm mắt mở rộng về phía bên phải, biển hiện ra và tiếng gió cũng đổi khác. Biển nhuộm màu da trời, sâu thẳm, những đợt sóng cuộn lên, ngọn sóng trắng lấp lánh. Nếu không có chúng, đường ranh giới giữa biển và trời, thậm chí giữa biển và đất liền hẳn đã trở nên mờ nhạt. Nhìn mãi cảnh tượng ấy khiến lòng Asakawa buồn bã. Thông tin về cơn bão đang phát trên đài lại càng làm gã rầu rĩ hơn. Tới một ngã ba, chiếc xe rẽ vào con đường bên phải và bắt gặp một lối đi trồng toàn hoa trà, nó chui qua dưới cái vòm ấy. Chắc tại mưa gió lâu ngày cướp đi lớp đất phủ, dưới những gốc cây, vô số những chiếc rễ trần trụi cong queo trồi ra và xoắn xuýt vào nhau. Vẻ mơn mởn ẩm ướt vì nước mưa trên bề mặt chúng bất chợt khiến Asakawa rơi vào một cảm giác như đang luồn lách trong ruột một
    con quái vật khổng lồ.

    - Còn một đoạn nữa là đến Sashikichi rồi. – Hayatsu nói. – Nhưng tôi không nghĩ là cô Yamamura Sadako còn ở đó. Những chuyện cụ thể hơn các anh cứ hỏi ông Yamamura Takashi. Nghe đâu ông ấy là anh em họ với mẹ của Yamamura Sadako.

    - Cô Yamamura Sadako năm nay bao nhiêu tuổi rồi ạ? – Asakawa hỏi. Từ nãy tới giờ, Ryuji chỉ ngồi bó gối ở ghế sau, chẳng hề mở miệng câu nào.

    - Tôi chưa gặp bao giờ, nhưng nếu cô ta còn sống thì năm nay chắc khoảng bốn hai, bốn ba gì đấy.

    … Nếu còn sống? Tại sao ông ấy lại dùng cách nói này? Asakawa bỗng thấy nghi ngại. Hay là cô ta đã biệt tích từ lâu? Đã đặt chân lên đến đảo mà không thu lượm được tin tức gì, gã chỉ còn cách đợi chờ kết cục. Nỗi hoang mang thoáng qua trong đầu gã.

    Đang băn khoăn thì chiếc xe dừng lại trước cửa một ngôi nhà hai tầng có tấm biển đề “Quán trọ Yamamura”. Ngôi nhà tọa lạc trên một sườn dốc thoai thoải nhìn ra biển, những ngày đẹp trời hẳn là phong cảnh dưới kia sẽ rất tuyệt vời. Ngoài khơi, cái bóng hình tam giác của một hòn đảo hiện lên lờ mờ. Đó là đảo Toshima.

    - Hôm nào trời nắng to, từ đây ta có thể nhìn thấy được đảo Nijima, Shikinejima, và cả đảo Kozushima nữa.

    Hayatsu đưa tay chỉ tít về phía nam và nói với vẻ tự hào.

  5. MinhThy R.L.G

    8.

    - Cậu bảo tớ điều tra về cô ta, nhưng điều tra cái gì bây giờ?

    … Tham gia đoàn kịch năm 1965? Hắn đùa chắc? Chuyện cách nay đã hai mươi nhăm năm rồi còn gì?

    Yoshino rủa thầm trong bụng.

    … Lần theo dấu vết của một tên tội phạm cách đây một năm cũng đủ bở hơi tai chứ nói gì đến hai mươi nhăm năm.

    - Mọi thứ, gì cũng được: cuộc đời, công việc và mong muốn của cô ta.

    Yoshino chỉ còn biết thở dài. Anh ta vừa kẹp ống nghe vào vai vừa kéo quyển sổ tay ở mép bàn về phía mình.

    - … Thế hồi ấy cô ta bao nhiêu tuổi?

    - Mười tám tuổi. Sau khi tốt nghiệp cấp ba ở Oshima, cô ta lên Tokyo và gia nhập đoàn kịch Hisho.

    - Oshima? – Yoshino thôi viết, cau mày. – Cậu đang gọi điện từ đâu đấy?

    - Từ Sashikichi trên đảo Izu Oshima.

    - … bao giờ về?

    - Cố gắng sớm nhất có thể.

    - Cậu có biết là bão đang vào không?

    Tất nhiên, ở trên đảo thì ai mà chẳng biết, thế nhưng cái tình huống đầy kịch tính và nhuốm màu sắc không tưởng này chợt khiến Yoshino thú vị. Hạn chót là tối ngày kia, vậy mà rất có thể hắn sẽ không về được vì bị mắc kẹt trên đảo.

    - Đường biển và đường hàng không không thế nào hả anh? – Asakawa vẫn mù mờ về cơn bão.

    - Tớ không biết, nhưng cứ tình hình này thì chắc là…

    - Huỷ chuyến…

    - … chắc là vậy.

    Cho tới giờ, Asakawa chưa hề nhận được một thông tin chính xác nào về cơn bão vì còn mải đuổi theo tung tích của Yamamura Sadako. Từ lúc tới cảng Oshima cái dự cảm không lành ấy đã lởn vởn trong đầu gã. Nhưng phải đến khi chính miệng gã thốt ra hai tiếng huỷ chuyến, nó mới lớn lên thành một nỗi hoang mang thực sự. Vẫn cầm chiếc điện thoại trên tay, Asakawa bỗng chìm vào im lặng.

    - Thôi nào, cậu đừng lo. Chưa có quyết định rõ ràng mà. – Yoshino cố làm ra giọng vui vẻ rồi lái câu chuyện sang hướng khác. – Nghĩa là, các cậu đã điều tra xong giai đoạn trước năm mười tám tuổi của Yamamura Sadako rồi phải không?

    - Cũng sơ sơ thôi…

    Vừa trả lời Asakawa vừa lắng tai nghe tiếng gió và tiếng sóng biển từ trong bốt điện thoại.

    - Cậu còn có manh mối nào khác nữa không? Chẳng lẽ chỉ có mỗi chi tiết đoàn kịch Hisho?

    - Vâng, còn một vài điểm nữa. Yamamura Sadako sinh năm 1947 ở Sashikichi trên đảo Izu Oshima, mẹ là Shizuko, à, anh ghi cả cái tên này nữa: Yamamura Shizuko, năm 1947 bà ta hai mươi hai tuổi. Vừa sinh xong, Shizuko gửi Sadako cho người bà của mình nuôi rồi bỏ nhà lên Tokyo…

    - Tại sao bà ta để lại đứa bé trên đảo?

    - Vì một người đàn ông. Anh ghi giùm em cả cái tên này nữa: Ikuma Heihachiro, khi ấy là phó giáo sư Khoa Thần kinh học Đại học T., người yêu của Yamamura Shizuko…

    - Như vậy thì Yamamura Sadako là con chung của Shizuko và Ikuma Heihachiro đúng không?

    - Chưa có bằng chứng xác thực, nhưng hiện thời có thể khẳng định suy đoán đó là đúng.

    - Hai người không cưới xin gì hết?

    - Vâng, vì Ikuma Heihachiro đã có vợ con rồi.

    Hoá ra là một cuộc tình dan díu… Yoshino liếm đầu bút chì.

    - Được rồi, cậu tiếp đi.

    - Ba năm sau, năm 1950, Shizuko về thăm quê và gặp lại con gái Sadako. Bà ta sống ở đó ít lâu nhưng chỉ đến cuối năm đó, bà ta lại ra đi, lần này thì mang theo cả Sadako. Hai mẹ con Shizuko và Sadako đã ở đâu, làm những gì suốt năm năm sau đó thì chưa rõ. Tuy nhiên, vào giữa những năm năm mươi, một người anh em họ của Yamamura Shizuko sống trên đảo có nghe đồn rằng Shizuko đã trở nên nổi tiếng và đang rất thành công.

    - Bà ta đã gây ra vụ gì à?

    - Không rõ nữa. Người anh em họ của Shizuko chỉ kể rằng có nghe phong thanh về bà ta mà thôi. Nhưng khi em chìa tấm danh thiếp nhà báo ra thì ông ta bảo, cánh săn tin các cậu phải rõ hơn tôi chứ. Xem cái cách nói ấy thì có vẻ như trong năm năm từ 1950 đến 1955, hai mẹ con Shizuko và Sadako đã làm một việc gì đó khiến giới truyền thông phải xôn xao. Tuy nhiên, vì ở đây là cù lao nên thông tin từ đất liền rất khó tới được…

    - Sao? Nghĩa là cậu muốn tớ điều tra chi tiết đó chứ gì?

    - Anh nhanh trí thật đấy.

    - Thằng đểu, điều ấy thì ai mà chả đoán ra.

    - Vẫn còn nữa. Năm 1956, Shizuko đem theo Sadako về làng nhưng trông bà ta tiều tụy như biến thành một người khác. Người anh họ có hỏi gì thì bà ta cũng không buồn trả lời, chỉ suốt ngày u uất và ư ử hát những câu không rõ nghĩa để cuối cùng gieo mình xuống miệng núi lửa Mihara tự vẫn. Khi ấy bà ta ba mươi mốt tuổi.

    - Cậu muốn tớ điều tra cả cái lý do bà ta tự sát nữa chứ gì?

    - Nhất định anh phải giúp em vụ này.

    Asakawa cúi gập người trong khi vẫn đang cầm ống nghe. Nếu bị mắc kẹt ở trên đảo, gã chỉ còn có thể trông cậy vào Yoshino. Gã thấy hối hận vì cả hai người đã cùng kéo nhau tới chỗ này. Một ngôi làng nhỏ như Sashikichi thì chỉ cần Ryuji là đủ. Đáng lẽ gã phải ở lại Tokyo, chờ Ryuji liên lạc về rồi cùng Yoshino hành động. Kế ấy rõ ràng là sẽ hiệu quả hơn.

    - Tớ sẽ cố trong khả năng có thể. Nhưng mà cậu không nghĩ rằng ta cần thêm người à?

    - Em sẽ gọi điện cho Tổng biên tập Oguri để nhờ huy động thêm vài người nữa.

    - Ừ, làm như thế đi.

    Nói thì nói thế thôi chứ bản thân Asakawa cũng không dám tin. Ai mà tin được một tay tổng biên tập luôn miệng ca cẩm thiếu người như Oguri lại có thể dành cho họ những biên tập viên quý giá của ông ta.

    - Để em kể tiếp. Sau khi mẹ tự sát, Sadako ở lại Sashikichi và được người bác họ nuôi nấng. Ngôi nhà của người này hiện đang dùng vào việc kinh doanh nhà trọ… – Asakawa định nói rằng gã đang cùng với Ryuji trọ tại chính ngôi nhà ấy nhưng lại thôi, vì gã nghĩ là thừa. – Năm lớp bốn, việc Sadako tiên đoán rằng núi lửa Mihara sẽ phun trào vào năm sau khiến cô bé nổi danh khắp trường. Anh biết không, năm 1956, núi lửa Mihara phun trào đúng như lời sấm của Sadako.

    - Ghê gớm nhỉ. Giá kể mà có cô ta thì cứ dẹp quách cái Ủy ban Dự báo Động đất đi cho rảnh nợ.

    Có lẽ Asakawa cũng chẳng cần nói thêm rằng tin đồn về sự linh ứng đã lan ra khắp đảo và tới tai mạng lưới săn tin của tiến sỹ Miura. Tuy nhiên, ở chi tiết này, có một điểm quan trọng…

    - Chính vì sự kiện này mà kể từ đó, Sadako thường xuyên bị những người dân đảo lui tới xin cho biết về tương lai của họ. Nhưng cô ta không bao giờ trả lời. Cô ta chỉ đáp lại rằng cô ta hoàn toàn không có cái khả năng ấy.

    - Vì khiêm tốn?

    - Không rõ nữa. Thế rồi khi tốt nghiệp cấp ba, như chỉ chờ có vậy, cô ta lên Tokyo. Sau đó, chỉ có duy nhất một tấm bưu thiếp được gửi về cho người họ hàng đã nuôi nấng cô ta. Tấm bưu thiếp đại ý viết rằng cô ta đã vượt qua kỳ sát hạch và gia nhập đoàn kịch Hisho. Rồi từ ấy đến nay, Sadako bặt vô âm tín, không một ai trên đảo biết cô ta đang ở đâu và làm gì.

    - Tóm lại, đầu mối duy nhất để lần ra dấu vết của cô ta từ sau quãng thời gian đó là đoàn kịch Hisho chứ gì?

    - Rất tiếc là như vậy…

    - Được rồi, ta soát lại một lượt nhé. Tớ sẽ điều tra lý do khiến giới báo chí xôn xao vì Yamamura Shizuko, lý do bà ta nhảy xuống miệng núi lửa và việc Sadako đã làm gì, ở đâu sau ngày tham gia đoàn kịch khi cô ta mười tám tuổi. Tóm lại là hai vấn đề, một liên quan đến mẹ và một liên quan đến con.

    - Đúng vậy.

    - Làm cái nào trước?

    - Sao ạ?

    - Tớ đang hỏi cậu muốn tớ điều tra bà mẹ trước hay cô con gái trước? Cậu không còn nhiều thời gian đúng không?

    Tất nhiên, Yamamura Sadako mới là vấn đề trực tiếp.

    - Cô con gái trước.

    - Rõ rồi. Ngay ngày mai tớ sẽ có mặt ở văn phòng đoàn kịch Hisho.

    Asakawa nhìn đồng hồ. Mới hơn sáu giờ chiều một chút. Giờ này chắc sàn tập của đoàn kịch vẫn còn mở cửa.

    - Anh Yoshino, anh đi luôn tối nay được không?

    Yoshino thở một cái rõ to rồi khẽ lắc đầu.

    - Asakawa này, cậu thông cảm cho tớ đi, tớ còn có công việc của mình. Tớ còn cả núi bản thảo phải hoàn tất trong đêm nay. Thực ra thì ngày mai tớ cũng…

    Yoshino ngừng lời ở đó. Nếu nói thêm nữa lại thành ra thái độ ban ơn. Yoshino bao giờ cũng chú ý tới từng chi tiết nhỏ để chứng tỏ mình là một thằng đàn ông khoáng đạt.

    - Em van anh đấy, Yoshino. Ngày kia là thời hạn của em rồi.

    Biết rất rõ nội tình của nghề báo, Asakawa không dám hối thêm nữa. Gã chỉ còn cách im lặng chờ đợi câu trả lời của Yoshino.

    - … Cậu đã nói thế thì đành vậy. Được rồi, tớ sẽ cố thu xếp trong tối nay, nhưng không hứa chắc đâu đấy.

    - Em mắc nợ anh lần này.

    Asakawa cúi đầu rồi chuẩn bị gác máy.

    - Này, chờ đã. Tớ vẫn chưa được nghe điểm mấu chốt.

    - Điểm gì?

    - Rốt cuộc, Yamamura Sadako có liên quan gì tới đoạn băng mà cậu xem?

    Asakawa ngừng một lát.

    - Em có nói anh cũng không tin.

    - Thì cậu cứ nói đi.

    - Đoạn băng đó không phải được ghi bằng máy quay video.

  6. MinhThy R.L.G

    Asakawa dừng lại trong một khoảng thời gian đủ dài để chờ cho ý nghĩ của một câu nói đi vào đầu Yoshino.

    - Đoạn phim là một chuỗi lẫn lộn những hình ảnh được ghi bằng mắt của Yamamura Sadako và những hình ảnh tưởng tượng trong tâm trí cô ta, chúng kết hợp với nhau một cách lộn xộn và phi tuyến tính.

    - Hả? – Từ ngữ bỗng chốc biến mất khỏi miệng Yoshino.

    - Không thể tin được phải không?

    - Một kiểu… chụp ảnh bằng ý nghĩ?

    - Khái niệm chụp ảnh bằng ý nghĩ chưa chính xác trong trường hợp này. Có lẽ cần phải gọi là phóng hình bằng ý nghĩ mới đúng, vì hình ảnh được đưa vào bóng hình bằng năng lượng của ý nghĩ.

    Chữ phóng hình làm Yoshino liên tưởng tới phóng tinh nên anh ta phá lên cười. Asakawa không giận dỗi, gã tự lý giải về phản ứng tâm lý ấy và lặng lẽ đứng nghe tiếng cười vô duyên của Yoshino.

    9:40 tối. Yoshino xuống khỏi tuyến tàu điện ngầm Marunouchi ở Yotsuya Sanchome. Trong lúc bước lên những bậc cấp dẫn từ sân ga lên mặt đất, một cơn gió mạnh suýt nữa làm bay chiếc mũ trên đầu Yoshino, anh ta lấy hai tay giữ mũ và nhìn ra xung quanh. Không phải tìm lâu, Yoshino ngay lập tức nhận ra trạm cảnh sát cứu hoả mà anh ta đã ghi nhớ để làm mốc ở góc đường. Địa điểm cần đến nằm cách đó chưa đầy một phút đi bộ.

    Bên cạnh tấm biển đề chữ “Đoàn kịch Hisho” là cầu thang dẫn xuống tầng hầm. Yoshino nghe thấy những tiếng độc thoại hoà cùng với lời ca của đám trai gái trẻ tuổi vọng lên từ bên dưới. Có lẽ bọn họ định tập cho tới trước chuyến tàu cuối vì buổi công diễn đang đến gần. Yoshino biết rất rõ điều này dù không phải phóng viên ban văn nghệ. Một người thường xuyên phải theo đuổi những vụ án hình sự như Yoshino có gì đó không thật thoải mái khi phải tới sàn tập của một đoàn kịch hạng trung như thế này.

    Chiếc cầu thang nối xuống tầng hầm được làm bằng sắt. Mỗi bước chân của Yoshino lại phát ra một tiếng kêu cồm cộp. Nếu như các thành viên sáng lập của đoàn kịch này không còn nhớ gì về Yamamura Sadako nữa thì có nghĩa đầu mối cuối cùng sẽ tuột mất và cuộc đời của một nhà siêu năng lực vô tiền khoáng hậu sẽ chìm vào bóng tối. Đoàn kịch Hisho được thành lập năm 1957, Yamamura Sadako gia nhập năm 1956. Những thành viên sáng lập còn lại hiện tại không quá bốn người, trong đó có Uchimura, nhà viết kịch kiêm đạo diễn và là đại diện của đoàn.

    Yoshino đưa danh thiếp cho một diễn viên học nghề trạc hai mươi tuổi đang đứng ở lối vào phòng tập và nhờ anh ta gọi Uchimura.

    - Thưa thầy, có phóng viên của báo M. muốn gặp thầy.

    Bằng chất giọng âm vang như của một anh kép, cậu diễn viên học nghề gọi đạo diễn Uchimura, người đang ngồi sát mép tường theo dõi các cử động của diễn viên. Uchimura giật mình quay lại, khi biết có nhà báo đến tìm ông ta ra mặt niềm nở và tiến lại gần Yoshino. Đoàn kịch nào cũng vậy, luôn luôn tiếp đãi báo giới một cách tử tế. Vì chỉ cần một bài viết nhỏ được đăng trên mục văn nghệ là đủ khiến doanh số bán vé tăng mạnh. Chắc tay phóng viên này tới để đưa tin về quang cảnh tập luyện cho vở diễn một tuần nữa đây mà, Uchimura nghĩ. Ông ta tỏ ra dễ mến là bởi muốn tận dụng cơ hội này, khi đoàn kịch của Uchimura chưa bao giờ có được một diện tích kha khá trên báo M.

    Nhưng ngay khi biết lý do Yoshino tới đây, Uchimura lập tức mất hứng và tỏ vẻ đang rất bận. Thế rồi, ông ta đưa mắt nhìn khắp phòng tập và dừng lại chỗ một nam diễn viên nhỏ thó đã hơn năm mươi tuổi đang ngồi trên ghế. “Shin, lại đây cưng!”, Uchimura gọi người đàn ông tới bằng thứ giọng có âm vực hơi cao. Cái gọi trìu mến dành cho một người đàn ông đã
    quá năm mươi, mà không, là chính cái giọng đàn bà và đôi cẳng chân dài ngoẵng ẻo lả và thiếu cân đối của Uchimura khiến một tay cơ bắp như Yoshino thấy gai người. Bọn họ thuộc một loài khác với mình, anh ta nghĩ.

    - Từ giờ đến cảnh hai không có vai nào của cưng nên cưng ra tiếp hộ mình anh bạn này nhé. Anh ta muốn biết về Yamamura Sadako. Cưng vẫn nhớ cái con bé ghê răng ấy đúng không?

    Yoshino đã từng nghe thấy giọng của người đàn ông tên Shin này trong những bộ phim nước ngoài được lồng tiếng trên ti vi. Arima Shin nổi tiếng trong những vai lồng tiếng hơn là trên sân khấu. Ông ta cũng là một thành viên đã sáng lập ra đoàn kịch.

    - Yamamura Sadako?

    Arima đưa tay lên cái trán đã hói gần một nửa và lần lại phần ký ức của hai lăm năm về trước.

    Giọng Arima hơi có vẻ thất thanh. Xem cái cách nói ấy, Yoshino đoán chắc đó là một phụ nữ có ấn tượng khá sâu sắc đối với ông ta.

    - Cưng nhớ ra rồi hả? Thế thì cưng dẫn anh bạn này lên phòng mình trên tầng hai nhé, mình phải tiếp tục tập đây.

    Uchimura khẽ cúi chào rồi rảo bước về phía tốp diễn viên. Trên quãng đường về đến chỗ ngồi ban nãy, hẳn là ông ta đã lấy lại bộ mặt của một đạo diễn quyền uy.

    Mở cánh cửa có dòng chữ “Phòng giám đốc”, Arima chỉ bộ sofa bọc da mời Yoshino ngồi. Có phòng giám đốc nghĩa là có giám đốc, mà có giám đốc thì đoàn kịch phải là một công ty. Yoshino đồ rằng ông đạo diễn vừa rồi chính là giám đốc.

    - Anh vất vả quá, trời thì đang mưa bão thế này.

    Mồ hôi ánh lên trên khuôn mặt đỏ bừng vì tập luyện của Arima, sâu trong đôi mắt ấy, Yoshino bắt gặp một nụ cười khá dễ mến. Trong khi ông đạo diễn ban nãy thuộc kiểu thích dò xét bụng dạ đối phương thì Arima lại có vẻ như sẽ trả lời mọi câu hỏi mà không hề giấu diếm. Công việc lấy tin nhẹ nhàng hay cực nhọc tùy thuộc vào tính cách của người tiếp chuyện.

    - Xin lỗi vì phiền ông trong lúc bận rộn thế này.

    Yoshino bắt đầu một động tác quen thuộc là rút ra cuốn sổ và cầm cây bút trên tay trong khi ngồi xuống.

    - Tôi không nghĩ là còn được nghe nhắc đến cái tên Yamamura Sadako vào lúc này nữa. Chuyện cách đây đã khá lâu rồi còn gì.

    Arima đang hồi tưởng lại thời thanh xuân của mình. Ông nuối tiếc cái sức trẻ vào cái thời mà ông chạy khỏi một gánh hát thương mại để cùng đám bạn lập ra một đoàn kịch mới.

    - Ban nãy, ông có nhắc tới tên cô gái ấy với một ấn tượng khá đậm, tại sao vậy?

    - Để tôi nhớ lại xem, cô gái đó tham gia đoàn kịch khi nào… Có lẽ là sau khi đoàn kịch ra đời được mấy năm. Hồi ấy đoàn kịch đang làm ăn phát đạt nên số người xin vào năm nào cũng tăng lên. Mà thôi đấy là chuyện khác, còn Yamamura Sadako ấy à, cô ta kỳ lạ lắm.

    - Kỳ lạ nghĩa là sao?

    - Nói thế nào nhỉ. – Arima chống tay lên cằm nghĩ ngợi. Nhắc ra mới nhớ, tại sao mình lại có ấn tượng với cô gái đó?

    - Cô ta có đặc điểm nào nổi bật không?

    - Không, bề ngoài trông rất bình thường, tuy có hơi cao. Cô ta thuần tính và… luôn tách mình ra khỏi tập thể.

    - Tách mình?

    - Phải, anh cũng biết là các diễn viên học nghề thường chơi thân với nhau, nhưng riêng cô ta thì chẳng bao giờ có ý định nhập hội với họ.

    Ở cộng đồng nào cũng có những kiểu người như vậy nên khó mà coi rằng đấy là điểm làm Yamamura Sadako khác người.

    - Nếu nói gọn trong một câu thì ấn tượng của ông về cô ta như thế nào?

    - Nói gọn trong một câu ấy à? Xem nào, cô ta có cái gì đó… hơi đáng sợ.

    Arima không ngần ngại khi dùng hai chữ đáng sợ. Mà hình như Uchimura cũng gọi cô ta là con bé ghê răng ấy. Yoshino không khỏi thông cảm với một cô gái mới mười tám tuổi mà lại bị đánh giá là ghê răng. Yoshino chợt liên tưởng tới một người con gái có tư dung xấu xí.

    - Theo ông thì tại sao cô ta lại có cái vẻ đáng sợ ấy?

    Suy nghĩ một chút sẽ thấy rất lạ. Tại sao hình ảnh về một diễn viên thực tập chỉ tham gia đoàn kịch vỏn vẹn có một năm trời và cách đây những hai mươi lăm năm về trước lại gây cho Arima một ấn tượng rõ nét đến vậy? Chắc chắn phải có điều gì đó khiến Arima không thể quên. Đó là một câu chuyện đã làm cái tên Yamamura Sadako ăn sâu vào ký ức của ông.

    - À, tôi nhớ ra rồi. Chuyện xảy ra chính tại căn phòng này.

    Arima vừa nhìn khắp lượt căn phòng. Ngay khi nhớ ra sự kiện ấy, cả căn phòng, thậm chí cả vị trí của những đồ nội thất ở đây khi nó còn được dùng làm văn phòng đoàn kịch, lại hiện về sống động trong ông.

    - Anh biết đấy, nơi tập luyện của chúng tôi vẫn ở đây suốt từ hồi đoàn kịch được thành lập cho đến giờ, tuy nhiên lúc bấy giờ nó chật chội hơn nhiều. Hồi đó, căn phòng mà chúng ta đang ngồi đây vốn được dùng làm văn phòng của đoàn kịch. Ở đằng kia có một cái tủ đựng đồ cho nhân viên, còn chỗ này là một tấm vách ngăn bằng kính mờ…, và còn có một chiếc ti vi được đặt ở đúng vị trí của chiếc ti vi bây giờ.

    Arima vừa nói vừa chỉ tay về phía đó.

    - Ti vi? – Yoshino thoáng nheo mắt rồi đổi lại tư thế cầm bút.

    - Phải rồi, một chiếc đen trắng đời cũ.

    - Thế rồi sau đó? – Yoshino giục.

    - Hôm ấy, khi buổi tập kết thúc và các thành viên khác đã ra về cả thì tôi trở vào căn phòng này định bụng đọc lại lời thoại của mình một lượt nữa vì còn chưa ưng ý. Lúc tôi đi đến đấy… – Arima chỉ về phía cửa – và ngó vào trong phòng thì thấy màn hình ti vi đang lấp loáng sau tấm kính mờ. Tôi cứ ngỡ là có ai đó đang xem ti vi. Anh đừng cho tôi là nhìn nhầm. Tôi không được trực tiếp thấy những gì đang diễn ra trên màn hình vì vướng bức vách ngăn bằng kính nhưng rõ ràng là có những hình đen trắng lòe nhòe đang nhảy nhót. Không có âm thanh nào hết… Căn phòng không tỏ mặt người, tôi vòng qua tấm kính để xem ai đang ngồi trước máy. Hoá ra là Yamamura Sadako. Nhưng khi tôi vòng qua tấm kính và đứng bên cạnh cô ta thì màn hình đã tắt. Tất nhiên, tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng cô ta đã nhanh tay bấm nút. Ngay lúc đấy, tôi không hề nghi ngờ gì cả. Thế nhưng…

    Arima ngập ngừng khi định nói ra điều sau đó.

    - Ông cứ tiếp đi.

    - Tôi vừa bảo với Yamamura Sadako rằng nếu cô ta không về sớm thì sẽ không còn tàu nữa đâu vừa bật công-tắc chiếc đèn bàn, nhưng mà nó không sáng. Xem xét kỹ thì hoá ra chưa cắm phích. Tôi quỳ xuống định cắm nó vào ổ điện. Đến lúc ấy tôi mới để ý thấy phích cắm của chiếc ti vi cũng đã không còn trong ổ điện…

    Arima vẫn nhớ như in cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng khi nhìn thấy đầu cắm của chiếc dây điện dẫn từ ti vi đang nằm lăn lóc trên nền nhà.

    - Nghĩa là chiếc ti vi vẫn bật trong khi nguồn bị tắt? – Yoshino xác nhận lại.

    - Đúng thế. Tôi lạnh hết cả người. Bất giác tôi ngẩng lên nhìn Yamamura Sadako. Tôi tự hỏi không biết con bé đang làm gì với chiếc ti vi không có điện? Cô ta không nhìn lại tôi, chỉ dán mắt vào trước màn hình ti vi, nhưng tôi thấy có một nụ cười rất khó nhận biết nở ra trên khóe miệng ấy.

    Hẳn là ấn tượng phải sâu đậm lắm thì Arima mới nhớ tới từng chi tiết như vậy.

    - Thế rồi ông có kể với ai về chuyện này không?

    - Tất nhiên rồi. Tôi kể cho Uchimura, cái ông đạo diễn mà anh vừa gặp ban nãy, và cả Shigemori nữa…

    - Shigemori là ai?

    - Là người sáng lập thực sự của đoàn kịch này. Uchimura là đại diện thứ hai sau ông ấy.

    - Tôi hiểu. Thế sau khi nghe câu chuyện của ông, Shigemori đã phản ứng như thế nào?

    - Lúc đó Shigemori đang đánh mạt chược nhưng ông ấy tỏ ra rất hào hứng. Bởi ông ấy vốn là một tay hám gái… Hình như ông ấy đã nhắm nhe từ trước rồi. Ông ấy bảo sẽ có lúc ông ấy chiếm đoạt Yamamura Sadako. Thế rồi đêm đó, một phần cũng tại hơi men, Shigemori khoe rằng sẽ đột kích vào căn hộ của Sadako, rồi nói năng lung tung làm chúng tôi đến khổ. Chúng tôi không thích hùa theo những lời bỡn cợt của một người say. Thế rồi chúng tôi bỏ ông ấy lại một mình và tất cả ra về. Rốt cuộc mọi việc kết thúc ở đó và chúng tôi không hề biết Shigemori có tới chỗ Yamamura Sadako thật hay không? Bởi vì, ngày hôm sau tuy Shigemori có mặt tại phòng tập nhưng ông ấy câm lặng như một người hoàn toàn khác, mặt bủng beo và ngồi bất động trên ghế, ông ta chết như đang ngủ.

    Yoshino giật mình ngẩng mặt lên.

    - Thế nguyên nhân cái chết là gì?

    - Đứng tim, bây giờ người ta gọi đó là suy tim cấp. Tôi nghĩ rằng ông ấy chết vì đã làm việc quá sức để chuẩn bị cho buổi công diễn trong giai đoạn nước rút.

    - Rốt cuộc, không một ai biết đã có chuyện gì xảy ra giữa Yamamura Sadako và Shigemori?

    Arima gật đầu để khẳng định cho câu hỏi của Yoshino. Vậy là đã rõ, với một nguyên nhân như thế, Yoshino có thể hiểu được tại sao ấn tượng về Yamamura Sadako lại hằn sâu đến vậy trong ký ức Arima.

    - Sau sự việc đó, cô ta thế nào?

    - Cô ta bỏ đoàn kịch. Tôi nghĩ là cô ta đã làm việc ở chỗ chúng tôi trong khoảng một hay hai năm gì đó.
    - Cô ta làm gì sau khi bỏ đoàn kịch?

    - Chà, cái đó thì tôi không biết.

    - Bình thường thì người ta sẽ làm gì sau khi bỏ đoàn kịch?

    - Người nào còn ham nghề thì lại vào một đoàn kịch khác.

    - Liệu Yamamura Sadako thì thế nào nhỉ?

    - Cô ta khá thông minh mà diễn xuất cũng không tồi. Tuy nhiên cô ta lại hơi khiếm khuyết về mặt tính cách. Anh biết đấy, trong cái giới này người ta phải sống dựa vào những mối quan hệ. Với tính cách ấy của cô ta thì e rằng không hợp.

    - Nghĩa là rất có thể cô ấy đã đoạn tuyệt với nghề?

    - Cũng khó nói lắm.

    - Ông có biết người nào nắm được tin tức của cô ta thời gian sau đó không?

    - Để tôi xem, những diễn viên học nghề đồng lứa với cô ta có thể biết.

    - Ông có biết tên và địa chỉ của họ không?

    - Xin anh chờ một lát.

    Arima đứng dậy và đi về phía giá sách. Sau đó ông lấy ra một tập hồ sơ trong đám tài liệu ken dày trên giá. Trong đó có cất giữ những tờ khai lý lịch phải nộp vào kỳ sát hạch.

    - Có tám người. Năm 1956 có tất cả tám diễn viên học nghề xin vào đoàn kịch, bao gồm cả Sadako.

    Arima ve vẩy tập lý lịch trên tay.

    - Tôi xin phép xem qua một chút được không?

    - Anh cứ tự nhiên.

    Trang lý lịch có dán hai ảnh. Một ảnh chân dung và một ảnh toàn thân. Yoshino cố nén cơn tò mò rút tờ lý lịch của Yamamura Sadako ra. Thế rồi bức ảnh đó như hút lấy hồn anh ta.

    - Lúc nãy ông có nói rằng Yamamura Sadako là một cô gái đáng sợ?

    Yoshino bối rối. Vì khuôn mặt Yamamura Sadako mà Yoshino hình dung ra trong câu chuyện của Arima khác xa so với khuôn mặt trong bức ảnh mà anh ta đang thấy.

    - Đáng sợ? Tại sao chứ? Tôi chưa từng thấy khuôn mặt nào đẹp như thế này.

    Bất giác Yoshino tự hỏi tại sao mình không dùng cách nói người phụ nữ đẹp mà lại nói khuôn mặt đẹp? Quả là một khuôn mặt gọn gàng đến hoàn hảo, nhưng lại thiếu vắng vẻ tròn trịa của một người con gái. Tuy vậy, trông cô ta thực sự nữ tính trong bức ảnh toàn thân vì đường bờ eo và đôi cổ chân thon thả. Mặc dù đẹp đến thế, nhưng với sự bào mòn của cái dòng chảy thời gian trải dài hai mươi lăm năm ấy, ấn tượng còn sót lại chỉ là một con bé ghê răng và đáng sợ. Bình thường, hẳn người ta sẽ nói: đó là một cô gái xinh đẹp tuyệt vời. Nhưng sự thật về một con người đáng sợ đã tác động mạnh vào tâm trí Yoshino, khiến anh ta chẳng còn dám để ý tới vẻ đẹp nổi bật của Sadako nữa.


    (còn tiếp)
  7. MinhThy R.L.G

    9.

    Thứ Tư, ngày 17 tháng Mười

    Đứng trên ngã tư cắt giữa đại lộ Omotesando và Aoyama, lại một lần nữa Yoshino rút ra cuốn sổ tay.

    Nhà trọ Sugiyama, 6-1 Minami-Aoyama. Đó là địa chỉ của Yamamura Sadako hai lăm năm trước. Yoshino đang phải nếm trải cảm giác tuyệt vọng vì ngôi nhà trọ không còn ở địa chỉ này nữa. Rẽ từ đại lộ vào, lô 6-1 nằm ngay cạnh Viện Bảo tàng Mỹ thuật Nezu. Tuy nhiên, đúng như những gì Yoshino lo lắng, một tòa chung cư tráng lệ xây bằng gạch đỏ đã mọc lên thế chỗ cho ngôi nhà trọ rẻ tiền kia.

    … Một việc bất khả thi về căn bản. Làm sao có thể biết được tung tích của một nhân vật cách đây đã hai lăm năm.

    Manh mối còn lại là bốn diễn viên học nghề cùng gia nhập đoàn kịch một đợt với Yamamura Sadako. Trong số bảy người này, Yoshino chỉ tìm thấy được địa chỉ liên lạc của bốn người. Nếu bọn họ không có tin tức gì của Sadako thì coi như mọi sợi dây đều bị cắt đứt. Yoshino chỉ còn cách nghĩ như vậy. Anh ta nhìn đồng hồ, đã quá mười một giờ đêm. Lao vội tới một cửa hàng văn phòng phẩm, anh ta bắt đầu gửi fax cho ban tin tức ở Izu Oshima để thông báo cho Asakawa biết những điều vừa thu thập được.

    Trong lúc ấy thì Asakawa và Ryuji đang có mặt tại nhà Hayatsu, nơi đặt văn phòng của ban tin tức.

    - Này, Asakawa! Cậu phải bình tĩnh chứ. – Nhìn thấy Asakawa sốt ruột đi đi lại lại, Ryuji quát. – Rối lên thì làm được gì nào?

    Vận tốc gió cực đại, khí áp vùng gần tâm bão lên tới… millibar (Đơn vị đo khí áp. Hiện nay được thay thế bởi đơn vị có tên gọi hectopascal. 1 millibar bằng 1 hectopascal), gió thổi theo hướng đông bắc… nằm trong khu vực gió mạnh kèm theo mưa lớn… sóng dâng cao dữ dội. Thông tin về cơn bão số 12 đang phát trên đài như chọc tức Asakawa.

    Vị trí tâm bão nằm ở ngoài khơi cách mũi đất Omaezaki 150km về phía nam, mỗi giờ bão đi được 20km về hướng đông bắc với vận tốc gió đạt 40m/s. Cứ theo đà này, chắc chắn chiều tối nay bão sẽ tới ngoài khơi đảo Oshima. Theo suy đoán của Hayatsu, có lẽ phải hết ngày mai, tức là qua thứ Năm, các chuyến bay và thuyền ra đảo mới hoạt động trở lại.

    - Cậu có biết thứ Năm nghĩa là gì không?

    … Mười giờ tối mai là hạn cuối của tao rồi. Cơn bão khốn kiếp kia, mau cuốn xéo đi! Mau yếu thành áp thấp nhiệt đới cho tao nhờ!

    - Khi nào thì thuyền và máy bay trên đảo mới hoạt động cơ chứ!

    Asakawa không còn biết phải trút cơn giận vào đâu.

    … Đáng lẽ ta không nên đến đây. Ta không còn thời gian để hối hận. Mà ta biết phải hối hận từ đâu bây giờ? Đáng lẽ ta không nên xem cuộn băng ấy. Đáng lẽ ta đừng có bận tâm về Oishi Tomoko và Iwata Shuichi. Đáng lẽ ta không được bắt chiếc taxi hôm nào… Khốn nạn!

    - Tớ đã bảo cậu phải bình tĩnh cơ mà. Cậu không hiểu à? Cậu than vãn với bác Hayatsu thì ích gì? – Ryuji nắm lấy tay Asakawa, bằng một cử chỉ dịu dàng kỳ lạ. – Cậu nghe này, biết đâu câu thần chú phải được thực hiện trên hòn đảo này? Có khả năng đó lắm chứ. Tại sao bọn nhóc lại không thực hiện câu thần chú? Vì chúng không có tiền để tới đảo Oshima. Đấy, hoàn toàn có thể phải không nào. Cứ coi trận bão này là một cơn gió phước lành, rồi cậu sẽ bình tâm lại.

    - Nhưng đó là chuyện sau khi đã tìm ra câu thần chú!

    Asakawa hất tay Ryuji ra. Thấy hai người đàn ông đã trung tuổi mà cứ ầm ĩ chuyện bùa ngải, Hayatsu và vợ, bà Fumiko, đưa mắt nhìn nhau. Nhưng Asakawa lại ngỡ họ đang cười mình.

    - Có gì đáng cười ở đây nào?

    Ruiji giật mạnh tay Asakawa khi gã định sấn về phía hai ông bà già.

    - Cậu có thôi đi không. Cuống quít lên như thế cũng chẳng giải quyết được gì đâu.

    Chứng kiến nỗi bức xúc của Asakawa, một người tốt bụng như Hayatsu bắt đầu cảm thấy trách nhiệm của mình trước việc tàu thuyền và máy bay bị hoãn chuyến vì cơn bão. Mà không, phải nói rằng ông bỗng thấy cảm thông với một con người đang khổ sở vì sự ảnh hưởng của cơn bão ngay trước mắt mình. Ông không ngớt cầu nguyện cho công việc của Asakawa được thuận lợi. Tuy sắp có fax từ Tokyo gửi tới, nhưng ông vẫn muốn làm một điều gì đó hòng thay đổi tình hình vì cho rằng việc chờ đợi chỉ làm tăng thêm sự bức bối.

    - Công việc điều tra tiến triển được nhiều chưa hả các anh?

    Hayatsu ôn tồn hỏi như để trấn tĩnh Asakawa.

    - Vâng, cũng tạm được.

    - Có một người bạn hồi nhỏ của Yamamura Shizuko sống ở ngay gần đây, hay là tôi gọi tới để các anh hỏi chuyện? Ông cụ tên là Gen, trời mưa bão thế này không ra biển được chắc ông cụ cũng buồn. Được gặp các anh ông ấy sẽ vui lắm đấy.

    Hayatsu tính rằng nếu kiếm cho gã một ai đó để phỏng vấn có thể gã sẽ nguôi ngoai.

    - Ông lão đã gần bảy mươi tuổi rồi, chẳng biết có được việc cho các anh không nhưng như thế còn hơn phải ngồi chờ, đúng không nào.

    - Dạ…

    Không đợi câu trả lời của Asakawa, Hayatsu ngoái đầu vào bếp sai vợ: “Bà nó, mau gọi điện cho ông Gen bảo ông ấy đến đây ngay.”

    Đúng như lời Hayatsu, Genji nói chuyện rất hào hứng. Ông lão vô cùng vui vẻ khi kể về Yamamura Shizuko. Genji hơn Shizuko ba tuổi, năm nay đã sang tuổi sáu mươi tám. Shizuko vừa là bạn nối khố vừa là người tình đầu tiên của ông. Việc nói chuyện với người khác đã làm các ký ức của ông mạch lạc hơn, hay chính trạng thái kích thích vì có người nghe đã khiến cho những kỷ niệm dễ dàng được khơi lại? Đối với Genji, kể về Shizuko cũng giống như kể về tuổi thanh xuân của mình vậy.

    Tuy bập bõm, nhưng câu chuyện Genji kể về Shizuko với những giọt lệ đôi khi ngấn lên trong mắt đã đem lại cho Asakawa và Ryuji một chút hiểu biết về con người này. Tuy nhiên, họ hiểu rằng không cần phải tin tất cả. Những kỷ niệm bao giờ cũng được đánh bóng, vả lại, hơn hết, chuyện xảy ra đã cách đây bốn mươi năm rồi. Biết đâu đấy, ông lão lại chả lẫn lộn với một người đàn bà khác? Nhưng mà không, không thể có chuyện ấy được. Đối với đàn ông, người phụ nữ của mối tình đầu là một cái gì đó đặc biệt, chưa chắc ông lão đã nhầm.

    Không thể cho rằng Genji là người khéo kể chuyện, lối kể chuyện của ông vòng vo và tối nghĩa. Quả thật là Asakawa đã bắt đầu thấy ngán. Thế rồi, có một câu nói của ông lão hốt nhiên khiến Asakawa và Ryuji chú ý. “Shizuko nhỏ bé của tôi bỗng nhiên đổi khác. Rõ ràng là tại nó. Bức tượng vị hành giả bằng đá nàng vớt từ dưới biển lên vào một đêm trăng tròn…”. Theo lời kể của ông, một sức mạnh lạ lùng nào đó đã nhập vào Shizuko, mẹ của Yamamura Sadako, và việc này có quan hệ mật thiết với biển trong đêm trăng tròn. Genji bảo, vào cái đêm mà chuyện đó xảy ra, ông đã ngồi chèo thuyền ngay bên cạnh Shizuko. Ấy là một đêm cuối hè năm 1946, khi Shizuko hai mươi mốt và Genji hai mươi bốn.

    “Đêm xuống, thế mà cái nóng của ban ngày chẳng dịu đi tẹo nào”, Genji kể lại sự việc của bốn mươi tư năm trước như thể nó vừa mới xảy ra tối hôm qua.

    Trong một đêm oi ả như thế, dưới ánh trăng vằng vặc. Genji ngồi ngoài hiên, vừa phe phẩy quạt vừa ngắm nhìn mặt biển tĩnh lặng không một tiếng sóng đang phản chiếu bầu trời đêm. Thế rồi sự yên ắng bị phá tan khi Shizuko lao lên từ con dốc trước nhà và đứng khựng trước mặt Genji. “Gen ơi, em muốn đi câu, đẩy thuyền ra đi!”, không một lời giải thích, cô kéo tay áo Genji. Genji có hỏi, cô chỉ nói: “Chẳng mấy khi có đêm trăng sáng thế này.” Genji chỉ biết ngồi thần ra đó ngắm nhìn người con gái đẹp nhất đảo Oshima. “Thôi cái mặt ngốc nghếch ấy đi, mau lên nào…”, Shizuko túm cổ áo Genji xềnh xệch lôi anh dậy. Genji bao giờ cũng chiều theo ý Shizuko. “Nhưng em định câu gì?”, Genji hỏi lại song Shizuko chỉ đáp nhẹ tênh: “Tượng ông hành giả bằng đá” và vẫn không rời mắt khỏi biển.

    - Ông hành giả…?

    “Quân chiếm đóng” (chỉ quân Mỹ vào tiếp quản Nhật Bản sau khi nước này thua trận trong Thế chiến II) vừa ném tượng ông hành giả bằng đá xuống biển vào buổi trưa nay”, Shizuko nhướn mày ấm ức nói.

    Trên Bãi cát Hành giả nằm ven bờ biển phía đông có một cái hang nhỏ mà người ta gọi là Động Hành giả. Trong động có một bức tượng đá của nhà tu hành En-no-Ozunu, người đã phiêu dạt tới đó vào năm 699 sau Công nguyên. Tương truyền, từ khi sinh ra, Ozunu đã tỏ ra vô cùng thông tuệ, sau khi tu luyện, ông học được chú thuật và tiền thuật, bằng những thuật này ông có thể dễ dàng sai khiến được quỷ thần. Tuy nhiên, khả năng tiên tri mà Ozunu để lộ ra đã khiến những kẻ cầm quyền hốt hoảng và rồi ông bị đày ra đảo Izu Oshima này như một tội nhân gây rối xã hội. Câu chuyện xảy ra cách đây đã gần 1300 năm. Ozunu ẩn mình trong một cái hang ven bờ biển và tiếp tục tu hành, ông truyền cho dân đảo nghề nông và nghề cá, ai ai cũng kính trọng ân đức ấy của ông. Tuy nhiên sau đó ông được tha bổng và trở về đất liền rồi lập nên giáo phái Mật tông Nhật Bản. Ông ở trên đảo Oshima khoảng ba năm và một truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay kể rằng, trong thời gian đó có lần ông đi một chiếc guốc sắt và bay đến tận núi Phú Sỹ.
    Lòng ngưỡng mộ vô hạn của dân đảo dành cho ông khiến Động Hành giả trở thành chốn linh thiêng bậc nhất ở đây và lễ hội có tên Hội Hành giả năm nào cũng được tổ chức vào ngày 15 tháng Sáu trên đảo.

    Tuy nhiên, ngay sau khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương chấm dứt, quân chiếm đóng đã ném bức tượng đá En-no-Ozunu thờ trong Động Hành giả xuống biển để thể hiện chính sách của chúng đối với Thần giáo và Phật giáo. Hành động ấy không thể lọt qua mắt Shizuko. Với lòng tín ngưỡng sâu sắc dành cho En-no-Ozunu, Shizuko giấu mình giữa những tảng đá trên Bãi Mũi Giun, quan sát và khắc ghi thật kỹ vị trí của bức tượng đá mà tàu tuần tiễu của hải quân Mỹ đã ném xuống.

    Genji không tin vào tai mình khi nghe Shizuko nói đến việc đi câu tượng hành giả. Là một ngư phủ, anh hoàn toàn tin tưởng vào tay nghề của mình, nhưng anh chưa bao giờ đi câu tượng đá. Tuy nhiên, anh không thể cự tuyệt lời thỉnh cầu của người con gái mình đang thầm yêu trộm nhớ, anh đẩy thuyền ra biển như thể đấy là cơ hội để anh làm cô phải mắc nợ mình. Và hơn hết, không có gì tuyệt diệu bằng nếu hai người được ở giữa biển vào một đêm trăng đẹp thế này.

    Sau khi nhóm lửa để làm hiệu trên Bãi cát Hành giả và Bãi Mũi Giun, họ chèo thuyền ra khơi. Cả hai người đều thuộc lòng vùng biển này: đáy biển và độ sâu của nó… Thậm chí là cả những luồng cá qua lại nơi đây. Nhưng dù đêm nay trăng có tỏ đến mấy thì ánh sáng của nó cũng chẳng thể lọt tới đáy biển. Genji không biết Shizuko sẽ tìm ra bức tượng đá bằng cách nào. Genji vừa khua mái chèo vừa hỏi điều đó nhưng Shizuko không trả lời, cô chỉ nhìn về phía ánh lửa trên bãi cát để xác định vị trí thuyền. Có thể cô ước lượng bằng mắt thường khoảng cách giữa hai đốm lửa trên bờ từ ngoài khơi và áng chừng được vị trí của mình lúc này. Chèo ra được vài trăm mét thì Shizuko kêu lên: “Dừng lại đi anh!”

    Shizuko đi về cuối thuyền rồi ghé sát mặt xuống biển. Cô nhìn vào làn nước tối om và ra lệnh cho Genji: “Lùi lại đằng sau!” Genji biết Shizuko chuẩn bị làm gì, ngực anh đập thình thịch. Cô đứng lên và cởi bỏ bộ kimono chấm hoa của mình. Tiếng quần áo sột soạt trên da khiến trí tưởng tượng của Genji bị kích thích mạnh, anh cảm thấy ngộp thở. Có tiếng nhảy tùm xuống biển sau lưng và bọt nước bắn lên vai, Genji len lén quay đầu lại. Shizuko búi mái tóc đen dài của mình lên bằng chiếc khăn tay. Cô bơi đứng và nhô mặt trên nước, miệng ngậm đầu của tấm lưới mắt nhỏ. Sau đó, cô nhoi hẳn lên, hớp mạnh không khí hai lần rồi lặn sâu xuống đáy.

    Chắc là cô đã phải ngoi lên mặt biển vài lần để lấy hơi… Cuối cùng, khi Shizuko ngẩng đầu lên, trên miệng cô đã không còn ngậm đầu lưới nữa. “Em đã buộc chặt lưới vào bức tượng rồi, bây giờ mình kéo lên thôi”, Shizuko run run nói.

    Đưa người về phía mũi thuyền, Genji bắt đầu kéo lưới. Không biết Shizuko đã lên thuyền từ bao giờ, cô khoác áo, đứng sát vào với Genji và phụ anh kéo bức tượng đá lên. Hai người đặt bức tượng đá ở giữa thuyền rồi trở về bờ, nhưng trong suốt thời gian đó Genji và Shizuko không nói với nhau lời nào. Có một bầu không khí nào đó đã chặn đứng mọi câu hỏi. Genji lấy làm lạ là tại sao Shizuko lại biết được vị trí của bức tượng giữa một vùng biển tối đen như thế. Ba ngày sau, Genji hỏi thì Shizuko trả lời rằng, bức tượng ông hành giả đã gọi cô từ dưới đáy biển. Shizuko bảo, cô thấy ánh mắt màu xanh lục của bức tượng đá có thể sai khiến được quỷ thần ấy sáng lấp lánh dưới đáy nước tối om…

    Từ đó về sau Shizuko thường hay kêu mệt. Trước đấy, Shizuko chưa bao giờ bị đau đầu. Nhưng những cảnh tượng mà cô chưa từng nhìn thấy càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong óc cô kèm theo những cơn đau nhức. Thế rồi, những cảnh tượng vụt qua ấy thể nào cũng trở thành hiện thực không lâu sau đó. Khi Genji gặng hỏi về điều này, Shizuko bảo, cô luôn cảm thấy mũi mình bị kích thích bởi mùi cam quít mỗi lần những hình ảnh về tương lai thoáng hiện lên trong não. Ngay trước khi người chị gái của Genji có chồng bên Odawara mất, cũng chính Shizuko đã báo trước về cái chết này. Song hình như cô không thể tự chủ được trong việc dự báo những sự kiện tương lai. Chỉ là một cảnh tượng nào đó vụt loé lên trong óc, không có dấu hiệu báo trước, không có gì chắc chắn rằng cô sẽ nhìn thấy cảnh tượng ấy. Vì vậy, Shizuko không bao giờ nhận lời đoán trước tương lai cho bất kỳ người nào.

    Một năm sau, mặc cho sự ngăn cản của Genji, Shizuko lên Tokyo rồi quen biết với Ikuma Heihachiro và mang bầu đứa con của anh ta. Cuối năm đó, Yamamura Shizuko trở về chốn cũ, sinh ra một mụn con gái. Đứa bé ấy chính là Sadako.

    Không thể biết được khi nào thì câu chuyện của ông lão Genji sẽ kết thúc. Xem cách nói ấy thì rõ là ông lão đang kết tội Ikuma Heihachiro về việc Yamamura Shizuko trầm mình xuống miệng núi lửa Mihara mười năm sau đó. Cố nhiên, đấy là tình cảm tất yếu đối với một tình địch, nhưng không dễ dàng gì khi phải nghe những câu chuyện pha lẫn hằn thù. Tuy vậy, gã cũng thu hoạch được một điều, ấy là Shizuko, mẹ của Yamamura Sadako, cũng có khả năng tiên tri và kẻ cho bà ta khả năng ấy rất có thể là bức tượng đá En-no-Ozunu.

    Đúng lúc đó thì chiếc máy fax bắt đầu hoạt động. Trên trang fax được in ra là bức chân dung phóng đại của Yamamura Sadako mà Yoshino kiếm được ở đoàn kịch Hisho.

    Asakawa bỗng có cảm giác xúc động lạ thường. Vì đây là lần đầu tiên gã được chiêm ngưỡng dung nhan của Yamamura Sadako. Mặc dù chỉ kéo dài ít phút, nhưng những cảm giác của gã và cô ta đã hoà vào làm một, gã đã nhìn thấy những cảnh tượng trong cuốn băng với cùng một ánh mắt với cô ta… Tựa như dung mạo của một người con gái đáng yêu tuy không hề biết mặt nhưng đã làm tình với gã và cùng đạt tới cực khoái trong bóng tối đang dần hiện ra dưới ánh nắng nhạt… Thật lạ là gã không hề cảm thấy ghê sợ. Hẳn nhiên rồi, vì bức ảnh gửi bằng fax tuy có hơi mờ nhưng vẫn chuyển tải được đầy đủ những đường nét và vẻ quyến rũ trên khuôn mặt xinh xắn của Yamamura Sadako.

    - Trông cũng khá đấy chứ! – Ryuji nói.

  8. MinhThy R.L.G

    Asakawa bất giác nghĩ đến Takano Mai. Nếu chỉ đơn thuần so sánh hai khuôn mặt sẽ nhận thấy Yamamura Sadako đẹp hơn Takano Mai nhiều lần. Tuy nhiên, trong khi ở Takano Mai toả ra một thứ mùi đàn bà, thậm chí là ngửi thấy được, thì Yamamura Sadako lại bị gọi là đáng sợ. Nhưng bức ảnh không hề cho thấy sự đáng sợ nào như thế. Chắc chắn là sức mạnh không người thường nào có được của Yamamura Sadako đã gây ra cảm giác đó ở những người xung quanh.

    Tờ fax thứ hai là thông tin tóm tắt về Shizuko, mẹ của Yamamura Sadako. Đó vừa vặn là câu chuyện tiếp theo những gì ông lão Genji vừa kể.

    Năm 1947, bỏ lại Sashikichi để lên Tokyo, Shizuko bị ngã quỵ bởi một cơn đau đầu đột ngột và được đưa đến bệnh viện, ở đó người ta giới thiệu cô với Ikuma Heihachiro, phó giáo sư Khoa Thần kinh học Đại học T. Ikuma Heihachiro đang cố gắng đi tìm một lời giải khoa học cho hiện tượng thôi miên nên khi phát hiện ra khả năng thấu thị ở Shizuko, anh ta đã tỏ ra vô cùng hứng thú. Sự kiện này đã làm thay đổi cả đề tài nghiên cứu của Ikuma. Kể từ đấy, Ikuma Heihachiro lao đầu vào những khảo cứu liên quan đến siêu năng lực mà Shizuko chính là đối tượng thí nghiệm. Tuy nhiên, hai người đã vượt qua mối quan hệ đơn thuần và, mặc dù đã có vợ con, Ikuma vẫn đem lòng yêu Shizuko. Cuối năm ấy, mang trong mình đứa con của Ikuma, Shizuko trở về Sashikichi để trốn chạy ánh mắt người đời và sinh ra Yamamura Sadako. Shizuko gửi lại Sadako ở Sashikichi rồi lập tức lên Tokyo, nhưng ba năm sau đó cô lại trở về để đem đứa bé đi. Nghe đâu, suốt từ đó cho đến khi nhảy xuống miệng núi lửa Mihara tự vẫn, Shizuko luôn để con gái bên mình
    mà không rời nửa bước.

    Thế rồi vào những năm năm mươi, sự kết đôi giữa Ikuma Heihachiro và Yamamura Sadako đã gây xôn xao lớn trên các tờ báo và tạp chí. Lý do là vì những căn cứ khoa học về siêu năng lực của họ bỗng nhiên trở thành tiêu điểm của xã hội. Ban đầu, có lẽ do bị huyễn hoặc bởi vị trí phó giáo sư đại học T. của Ikuma Heihachiro mà hầu hết dư luận đều tin vào năng lực siêu nhiên của Shizuko. Lựa chiều gió, giới truyền thông cũng tuôn ra những lời lẽ đầy thiện chí. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều những ý kiến phê phán, coi đó là trò bịp bợm, và chỉ bằng một lời phát biểu nhận xét rằng “điều này rất đáng ngờ” của một nhóm học giả uy tín hơn thế là phần lớn các báo bắt đầu ngả sang hướng đầy bất lợi cho Ikuma Heihachiro và Yamamura Shizuko.

    Những thứ mà Shizuko thực hiện được chủ yếu là khả năng ngoại cảm, bao gồm chụp ảnh bằng ý nghĩ, thấu thị, tiên tri; trên thực tế cô chưa bao giờ bộc lộ khả năng viễn khiển, tức là phép di chuyển các vật mà không cần chạm vào chúng. Một số tờ tạp chí thì khẳng định, Shizuko có thể in được những hình vẽ theo đúng yêu cầu lên tấm phim đã niêm phong cẩn mật chỉ bằng cách áp nó lên trán, và cũng như vậy, cô có thể đoán bách phát bách trúng những thứ nằm trong một chiếc phong bì dán kín. Trong khi đó, một số tờ tạp chí khác lại cho rằng, Shizuko chẳng qua chỉ là một kẻ lừa đảo, những nhà ảo thuật dày công luyện tập một chút cũng có thể làm được điều tương tự dễ như trở bàn tay. Cứ như thế, dư luận dần tỏ ra lạnh nhạt với Shizuko và Ikuma Heihachiro.

    Giữa khi ấy, bất hạnh bỗng đổ ập lên đầu Shizuko. Năm 1954, Shizuko sinh đứa bé thứ hai, đó là một thằng con trai, nhưng sau khi chào đời bốn tháng nó bị bệnh chết. Lúc ấy Sadako lên bảy và nghe đâu cô đã dành cho cậu em mới đẻ của mình một tình yêu đặt biệt.

    Một năm sau, năm 1955, Ikuma Heihachiro quyết định khiêu chiến với báo chí bằng cách biểu diễn khả năng đặc biệt của Shizuko trước công chúng. Ban đầu Shizuko không bằng lòng. Cô sợ thất bại vì ở giữa đám đông cô không thể tập trung tinh thần theo ý muốn. Nhưng Ikuma không nhượng bộ. Anh ta không thể chịu đựng được chuyện bị báo giới gọi là kẻ lừa đảo mãi và cho rằng cách duy nhất để khiến thiên hạ sáng mắt ra là cho họ thấy những bằng chứng rõ ràng.

    Ngày hôm đó, mặc dù không thoải mái, Shizuko vẫn bước lên bục thí nghiệm giữa sự chứng kiến của gần một trăm phóng viên và học giả. Một phần cũng bởi sự suy sụp về tinh thần kể từ sau khi mất đi đứa con trai, Shizuko không ở vào trạng thái sung mãn nhất. Phương pháp thí nghiệm dự kiến rất đơn giản. Cô chỉ phải đoán số chấm của hai con xúc xắc trong một vật đựng bằng chì. Nhưng Shizuko đọc thấy trong ý nghĩ của toàn bộ một trăm con người đang vây quanh mình rằng, họ chờ đợi sự thất bại của cô. Shizuko run rẩy, cô quỳ sụp xuống sàn và hét lên đau đớn: “Thôi đi!” Shizuko thanh minh: “Con người, ai cũng có một năng lượng ý nghĩ nhất định. Tôi hơn người chỉ ở năng lượng ấy. Nhưng giữa một trăm ý nghĩ muốn tôi thất bại, dòng năng lượng ấy của tôi sẽ bị cản trở và tôi không thể phát huy được khả năng của mình.” Ikuma Heihachiro nói tiếp: “Không. Không chỉ có một trăm người mà toàn thể dân Nhật đang muốn giày xéo lên thành quả nghiên cứu của tôi. Dư luận sẽ ngả theo những gì báo chí đồn thổi, và khi ấy, báo chí các n
    gười sẽ chẳng bao giờ nói ra những gì khác với điều mà dân chúng đang mong đợi. Các người thật đáng xấu hổ!” Rốt cuộc, màn thí nghiệm công khai khả năng thấu thị đã khép lại bằng những lời mạt sát báo giới của Ikuma Heihachiro.

    Giới truyền thông nhìn nhận những lời thịnh nộ của Ikuma Heihachiro như một cách mà anh ta muốn dựng lên để đổ tội cho kẻ thù của mình là báo chí về thất bại của cuộc thí nghiệm. Và ngày hôm sau, họ đồng loạt đăng những dòng sau trên tất cả các mặt báo: “Đúng là đồ bịp bợm!”, “Kẻ giả mạo đã bị lột mặt nạ!”, “Phó giáo sư đại học T., một tên lừa đảo!”, “Chấm hết cho một cuộc tranh cãi kéo dài năm năm!”, “Thắng lợi của khoa học hiện đại!”. Không có bất cứ bài báo nào ủng hộ Shizuko và Ikuma Heihachiro.

    Cuối năm ấy, Ikuma Heihachiro ly dị vợ, thôi việc ở đại học T. Shizuko ngày càng bị chứng hoang tưởng hành hạ. Ít lâu sau, với quyết tâm có được siêu năng lực, Ikuma Heihachiro giam mình trên núi và tu luyện dưới thác nước nhưng việc tập luyện quá sức đã khiến anh ta mắc bệnh lao phổi và phải vào trại điều dưỡng Hakone. Trạng thái tinh thần của Shizuko mỗi lúc một thêm tồi tệ. Sadako, khi ấy lên tám, đã thuyết phục mẹ trở về Sashikichi để trốn chạy sự nhòm ngó của báo chí và những lời đàm tiếu của thế gian, nhưng chỉ trong một phút sao nhãng, mẹ cô đã nhảy xuống miệng núi lửa Mihara.

    Asakawa và Ryuji đọc xong hai tờ fax cùng một lúc.

    - Oán niệm đây mà. – Ryuji lẩm bẩm.

    - Oán niệm?

    - Theo cậu thì Sadako nghĩ gì khi mẹ cô ta nhảy xuống núi lửa Mihara?

    - Oán giận giới truyền thông?

    - Không chỉ giới truyền thông. Mà oán giận tất cả dư luận, những kẻ ban đầu thì tâng bốc nhưng khi tình thế thay đổi lại quay sang chế nhạo và đẩy gia đình cô ta đến cảnh tan vỡ. Yamamura Sadako ở bên bố mẹ từ lúc lên ba đến khi lên năm, đúng không nào? Thế thì chắc chắn cô ta hiểu rất rõ cái sự tráo trở ấy của người đời.

    - Nhưng không có nghĩa là như thế thì cần phải trả thù tất cả.

    Asakawa bắt đầu biện bạch, tất nhiên rồi, vì gã ý thức được rằng gã chính là một bộ phận của cái giới truyền thông kia. Trong bụng mình, gã đang biện bạch, mà không, gã đang van xin. Cô biết đấy, tôi cũng lên án bản chất của giới truyền thông giống như cô vậy.

    - Cậu lảm nhảm cái gì thế?

    - Hả?

    Asakawa không nhận ra là mình đang lẩm bẩm thành tiếng như niệm Phật.

    - Cậu thấy chưa, chúng ta đã giải mã được một phần những hình ảnh đó rồi. Mihara là nơi mẹ Sadako trẫm mình và là ngọn núi lửa mà cô ta tiên đoán sự phun trào của nó, vì vậy ý niệm của cô ta đối với ngọn núi này rất mạnh. Tiếp theo là cảnh chữ “Yama” hiện lên mờ tỏ, chắc hẳn đó là con chữ đầu tiên Sadako thực hiện thành công khả năng chụp ảnh bằng ý nghĩ hồi còn nhỏ.

    - Hồi còn nhỏ?

    Asakawa vẫn chưa hiểu tại sao lại nhất thiết phải là bức ảnh được chụp bằng ý nghĩ hồi còn nhỏ?

    - À, là hồi cô ta lên bốn hoặc lên năm. Và sau đó là cảnh hai quân xúc xắc. Sadako hẳn là đã có mặt trong cuộc trình diễn công khai đó và lo lắng quan sát khi mẹ cô ta đoán mặt quân xúc xắc.

    - Khoan đã! Yamamura Sadako nhìn thấy rõ những quân xúc xắc lăn trong chiếc bát bằng chì đó!

    Cả Asakawa và Ryuji đều nhìn thấy cảnh tượng ấy bằng chính mắt mình. Không thể nào nhầm được.

    - Thế thì sao?

    - Trong khi đó thì mẹ cô ta, Shizuko, lại không thể thấu thị được.

    - Con làm được điều mà mẹ không làm được thì có gì là lạ? Cậu nghe này, tuy lúc ấy Sadako mới lên bảy tuổi, nhưng cô ta có một khả năng gấp bội mẹ mình. Năng lượng ý nghĩ của một trăm người cộng lại cũng không phải là đối thủ của cô ta. Cậu thử nghĩ xem. Cô ta có thể đưa được cả hình ảnh vào trong bóng đèn hình cơ mà. Ti vi phát ra hình ảnh bằng một phương pháp hoàn toàn khác so với nguyên lý cảm quan của phim. Nó tạo ra hình ảnh bằng cách quét lên màn hình 525 dòng tia điện tử. Sadako làm được điều đó. Cô ta có một năng lượng khủng khiếp.

    Asakawa vẫn không làm sao hiểu nổi.

    - Nếu cô ta có một khả năng ghê gớm đến vậy thì tại sao lại không in lên tấm phim mà tiến sỹ Miura gửi đến một hình ảnh phức tạp hơn?

    - Ngốc ơi là ngốc. Cậu nên nhớ rằng mẹ cô ta, Shizuko, đã phải chịu đựng một cuộc đời bất hạnh chỉ vì bị người khác biết được khả năng đặc biệt của mình. Liệu bà ta có muốn để con gái giẫm lên vết xe đổ đó không? Chắc chắn là bà ta đã bắt con gái phải giấu đi khả năng của mình và sống như một người bình thường. Vì thế, Sadako đã điều chỉnh lại cường độ năng lượng để tạo ra một bức hình chẳng có gì đặc biệt.

    Hoá ra Yamamura ở lại một mình trong phòng tập sau khi các diễn viên khác đã về hết và ngồi trước chiếc máy thu hình, thứ rất có giá vào thời ấy, là nhằm kiểm tra khả năng của mình. Tất nhiên, cô ta đã rất cảnh giác để người khác không biết được điều này.

    - Thế còn bà lão xuất hiện ở cảnh kế tiếp là ai? – Asakawa hỏi.

    - Chịu thôi. Có thể bà già ấy đã xuất hiện trong một giấc mơ của Sadako và thì thầm với cô ta điều gì đó giống như một lời tiên tri. Bà ta dùng một thứ thổ ngữ cổ xưa. Chắc cậu cũng để ý, người dân ở đây hầu hết đều nói tiếng phổ thông. Bà ấy đã khá già lão rồi. Có khi sống vào thời Kamakura cũng nên. Mà chẳng biết chừng, bà ta còn có quan hệ gì đó với En-no-Ozunu ấy chứ.

    …. Sang năm, cháu sẽ sinh con.

    - Lời tiên đoán ấy có đúng không nhỉ?

    - À, cái đó hả. Tiếp theo là cảnh thằng bé sơ sinh đúng không nào? Ban đầu tớ cứ tưởng nó là con của Sadako, nhưng khi xem bản fax thì có vẻ như tớ nhầm.

    - Cậu cho rằng đó là đứa em trai bị chết sau khi sinh bốn tháng của Sadako?

    - Tớ nghĩ là vậy.

    - Thế còn lời tiên tri của bà già? Rõ ràng là bà ta đang nói với Sadako. Hay là Sadako có con?

    - Không biết. Nếu tin lời bà ta thì cũng có thể là vậy.

    - Con ai nhỉ?

    - Ai mà biết được? Này, cậu đừng nghĩ rằng cái gì tớ cũng biết. Tớ chỉ nói những điều tớ suy đoán thôi.

    Nếu Yamamura Sadako có con thì đứa con đó là con ai và hiện đang làm gì?

    Ryuji đột nhiên đứng bật dậy khiến đầu gối đập mạnh vào gầm bàn.

    - Tớ thấy đói quá, chắc là sang ngày rồi. Aakawa, đi ăn thôi.

  9. MinhThy R.L.G

    Nói rồi Ryuji vừa lấy tay xoa đầu gối vừa nhanh nhẹn đi về phía cửa. Asakawa không đói, nhưng gã quyết định đi cùng vì có chuyện cần bàn. Ryuji có yêu cầu gã điều tra một việc, nhưng vì không biết bắt đầu từ đâu nên gã vẫn cứ gác lại đấy. Bây giờ gã mới vừa nhớ ra. Đó là cảnh cuối của cuốn băng. Rất có thể đó là Ikuma Heihachiro, bố của Sadako. Nhưng lại có quá nhiều sự thù địch trong ánh mắt của Sadako đối với con người này. Lúc nhìn thấy khuôn mặt ấy trên màn hình, Asakawa cảm thấy một nỗi đau ê ẩm và nặng nề ở sâu trong cơ thể mình, kèm theo một cảm giác ghê tởm dữ dội. Đó là người đàn ông có khuôn mặt gọn gàng và ánh mắt không đến nỗi độc ác, nhưng thật lạ là tại sao gã lại có ác cảm với anh ta. Rõ ràng đấy không phải là ánh mắt mà Sadako dành cho người ruột thịt. Trong những thông tin Yoshino điều tra được cũng không thấy có chỗ nào chứng tỏ rằng Sadako chống đối cha mình. Ngược lại, gã có cảm giác Sadako là một người con hiếu thảo. Nhưng có vẻ như việc tìm ra tung tích của người đàn ông đó là một nhiệm
    vụ bất khả thi. Khoảng thời gian ngót ngét ba mươi năm hẳn phải làm cho một khuôn mặt biến đổi đi nhiều. Tuy vậy, tính đến mọi khả năng, có khi gã vẫn nên nhờ Yoshino kiếm lấy một tấm ảnh chân dung của Ikuma Heihachiro, và cần phải biết xem quan điểm của Ryuji ra sao về chi tiết này. Nghĩ như thế, Asakawa bước ra ngoài và đuổi theo sau Ryuji.

    Tiếng gió thổi ù ù. Ô hoàn toàn không có tác dụng. Asakawa và Ryuji khom người chạy vội về phía quán ăn nhẹ ngay trước cảng Motomachi.

    - Uống bia chứ?

    Không đợi Asakawa trả lời, Ryuji gọi với về phía người phục vụ: “Cho hai chai bia!”

    - Ryuji, mình muốn nói tiếp câu chuyện lúc nãy. Theo cậu, tóm lại thì những hình ảnh trong cuốn băng đó là gì?

    - Chịu.

    Chẳng buồn ngẩng mặt lên, Ryuji đáp gọn lỏn vì còn mải chén món cơm suất với thịt nướng. Asakawa lấy dĩa xiên một miếng xúc xích và đưa cốc bia lên miệng. Qua ô cửa sổ, gã nhìn thấy cầu cảng. Không một mống người trước phòng bán vé phà Tokai Kisen. Nơi nào cũng vắng lạnh. Những du khách bị kẹt lại trên đảo chắc hẳn đang lo lắng nhìn trời và biển trong đêm tối từ những ô cửa sổ quán trọ.

    Ryuji ngẩng mặt lên.

    - Lúc sắp chết, trong đầu người ta hiện lên những gì cậu có biết không?

    Asakawa đưa ánh mắt đang hướng ra ngoài cửa sổ về phía đối diện với mình.

    - Những hình ảnh để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tâm trí sẽ vụt tái hiện như một đoạn phim flash-back…

    Asakawa có lần đã đọc được điều này trong cuốn sách của một nhà văn. Trong lúc đánh xe trên một cung đường núi, tác giả bỗng nhiên mất lái khiến cho cả người và xe đều lăn xuống một vực sâu. Vào khoảnh khắc chiếc xe lao ra khỏi đường và văng lên không trung, nhà văn nọ tin rằng mình sẽ chết, và vào cái khoảnh khắc nghĩ như thế, hàng loạt những hình ảnh về cuộc đời ông ta từ quá khứ rào rào lướt qua trước mắt, rõ ràng tới từng chi tiết. Cuối cùng, giống như một kỳ tích, tác giả thoát chết nhưng cái kinh nghiệm mà ông ta trải qua vào giây phút ấy thì vẫn còn nguyên trong trí nhớ.
    - Không lẽ cậu định ám chỉ điều đó? – Asakawa hỏi.

    Ryuji vẫy người phục vụ và gọi thêm một chai bia nữa.

    - Tớ chỉ liên tưởng thế thôi. Vì các cảnh phim trong cuốn băng là những thời khắc mà dòng năng lượng tư duy và ý nghĩ của Sadako hoạt động mạnh nhất. Có thể coi đó là những hình ảnh sâu đậm với cô ta lắm chứ.

    - Hiểu rồi, mà này, như thế có nghĩa là…

    - Phải, khả năng ấy là rất lớn.

    … Yamamura Sadako không còn tồn tại trên cõi đời này nữa?

    Và cô ta dùng cách đó để lưu lại trên thế giới này những hình ảnh lẫn lộn lướt qua trong đầu mình vào phút lâm chung?

    - Tại sao cô ta lại chết? Rồi cả mối quan hệ giữa người đàn ông ở cuối đoạn băng với Sadako nữa chứ?

    - Cậu đừng có cái gì cũng hỏi tớ. Tớ làm sao mà biết được tất cả mọi chuyện.

    Asakawa tỏ ra chưa chịu.

    - Này, động não một chút đi ông bạn! Cậu quá dựa dẫm vào người khác rồi đấy. Cậu sẽ ra sao nếu tớ có chuyện và cậu sẽ phải một mình đi tìm câu thần chú? – Ryuji nói tiếp.

    Không đời nào lại có chuyện ấy. Có chăng chỉ là trường hợp Asakawa chết đi và Ryuji phải tự tìm câu thần chú một mình, chứ ngược lại thì không. Riêng về việc này thì Asakawa tin chắc.

    - Lúc nãy có một anh tên là Yoshino gọi điện từ Tokyo đến. Anh ta bảo sẽ gọi lại sau mười phút nữa vì đang ở ngoài. – Hayatsu thông báo khi họ trở về.

    Asakawa ngồi chầu chực trước máy điện thoại và cầu mong cho đó là một tin tốt lành. Chuông reo. Yoshino gọi.

    - Ban nãy tớ gọi cho cậu mấy lần… – Giọng Yoshino hơi có vẻ trách móc.

    - Xin lỗi, em vừa ra ngoài đi ăn.

    - Thế, fax đã đến chưa?

    Yoshino khẽ đổi giọng. Vẻ trách cứ biến mất, thay vào đó là sự dịu dàng. Asakawa chợt có linh cảm xấu.

    - Vâng, thông tin rất đáng giá. – Nói rồi Asakawa chuyển ống nghe từ tay trái sang tay phải. – Sau đấy anh có tìm thấy gì nữa không? Về tung tích của Yamamura Sadako ấy?

    Asakawa dồn dập hỏi. Nhưng có một khoảng lặng trước câu trả lời của Yoshino.

    - Không xong. Mất dấu rồi.

    Nghe thấy vậy, mặt Asakawa méo xệch như sắp khóc. Ryuji thì thích chí quan sát sự biến đổi nhanh chóng từ hy vọng sang tuyệt vọng trên khuôn mặt của một con người. Y ngồi phịch xuống chiếu rồi duỗi thẳng hai chân ra phía khoảng sân trước nhà.

    - Anh nói mất dấu nghĩa là sao? – Giọng Asakawa lạc đi.

    - Trong đám diễn viên học nghề vào đoàn kịch cùng đợt với Yamamura Sadako có bốn người là có thể liên hệ được. Tớ gọi cho cả bốn nhưng chẳng ai biết được điều gì. Bọn họ, gọi thế thôi chứ cũng xấp xỉ năm mươi cả rồi, đều nhất loạt nói rằng họ không hề trông thấy Yamamura Sadako kể từ khi giám đốc đoàn kịch Shigemori chết. Ngoài ra, không có thêm thông tin nào nữa về Yamamura Sadako.

    - Không thể, không thể kết thúc như thế này chứ.

    - Nói vậy, cậu đã có cách gì chưa…

    - Em sẽ chết vào mười giờ tối mai. Không chỉ có em, mà vợ và con gái em cũng sẽ chung số phận vào mười một giờ sáng ngày Chủ nhật.

    Ryuji nói vóng lại từ đằng sau.

    - Cậu quên mất tớ rồi à, rõ chán.

    Asakawa tiếp tục, không thèm để ý tới câu nói chen ngang của Ryuji.

    - Chưa hết cách mà anh. Hẳn là còn có ai đó ngoài mấy tay diễn viên học nghề kia biết được tin tức của Yamamura Sadako chứ. Anh Yoshino, tính mạng của cả gia đình em đang bị đe doạ.

    - Đã chắc gì.

    - Ý anh là sao?

    - Biết đâu sau hạn chót cậu vẫn sống.

    - Anh chưa tin phải không?

    Asakawa nghĩ tới cảnh tượng mọi thứ trước mắt mình đều trở nên tối mịt.

    - Cậu không thể bảo tớ phải tin một trăm phần trăm câu chuyện ấy được.

    - Nghe em đi anh Yoshino. – Nói cách nào để thuyết phục được con người này bây giờ? – Tất nhiên, ngay cả em cũng không tin đến một nửa câu chuyện ấy. Câu thần chú là cái gì cơ chứ, thật là ngu ngốc. Nhưng nghe em này Yoshino, giả sử với xác suất viên đạn bay ra là 1/6, anh có dám kề súng vào thái dương mình và bóp cò không? Anh có dám lôi cả gia đình vào một trò ru-lét Nga nguy hiểm đến thế không? Anh không thể đúng không nào? Và tất nhiên là anh sẽ hạ súng xuống rồi quẳng nó đi càng xa càng tốt, như xuống biển chẳng hạn, phải không?

    Asakawa nói liền một hơi. Còn Ryuji thì kêu tướng lên ở đằng sau: “Chúng ta ngu quá, ngu quá.”

    - Cậu im đi! – Asakawa lấy tay bịt ống nghe rồi quay lại nạt Ryuji.

    - Có chuyện gì thế? – Yoshino hạ thấp giọng.

    - Không, không có gì. Anh Yoshino, giúp em đi. Em chỉ còn có thể trông cậy vào anh…

    Ryuji kéo cánh tay Asakawa giữa lúc gã đang nói. Điên tiết, Asakawa hằm hằm quay lại. Nhưng thứ mà gã trông thấy là khuôn mặt nghiêm túc đến bất ngờ của Ryuji.

    - Bọn mình ngốc quá. Cả cậu và tớ đều mụ mẫm hết rồi. – Ryuji nói nhỏ.

    - Anh chờ em một chút. – Asakawa hạ ống nghe xuống. – Có chuyện gì thế?

    - Việc đơn giản thế mà cớ sao chúng ta không nghĩ ra? Cần gì phải lần theo Yamamura Sadako từ quá khứ? Chúng ta có thể làm ngược lại cơ mà. Tớ hỏi cậu: Tại sao lại là ngôi biệt thự B-4? Tại sao lại là Villa Log Cabin? Tại sao lại là Pacific Land Nam Hakone?

    Asakawa ngớ người, rồi gã ngộ ra một điều gì đấy. Sau đó, gã trở lại bình tĩnh và đưa ống nghe lên.

    - Anh Yoshino.

    Yoshino vẫn đang đợi.

    - Anh Yoshino, anh gác hướng đoàn kịch lại hộ em. Em có một việc khẩn cấp hơn muốn nhờ anh điều tra. Hình như em đã nói với anh về Pacific Land Nam Hakone rồi thì phải…

    - À, tớ có nghe. Câu lạc bộ resort ấy hả?

    - Vâng. Theo em nhớ thì mười năm trước người ta xây dựng ở đó một sân golf và gần đây các cơ sở vật chất khác mới được hoàn thiện như là những dịch vụ đi kèm… Em muốn nhờ anh điều tra xem cái gì đã tồn tại ở đó trước khi Pacific Land được xây dựng.
    Có tiếng cây bút của Yoshino chạy trên giấy.

    - Có cao nguyên chứ còn cái gì nữa?

    - Có thể là như thế mà cũng có thể không.

    Ryuji lại kéo ống tay áo Asakawa. “Cả bản vẽ nữa. Cậu hiểu chứ? Nếu còn có các kiến trúc khác trước khi Pacific Land được xây dựng, cậu nhớ nhờ anh ta xin cho cái bản vẽ ấy.”

    Asakawa nói lại với Yoshino y như vậy rồi bỏ máy. Gã vận toàn bộ sức lực vào một ý nghĩ, nhất định Yoshino phải tìm ra manh mối. Phải rồi, vì ai cũng có một năng lượng ý nghĩ.
  10. MinhThy R.L.G

    10.

    Thứ Năm, ngày 18 tháng Mười

    Gió hơi mạnh, những đám mây trắng trôi là là dưới bầu trời xanh ngắt. Cơn bão số 21 quét qua Bán đảo Boso rồi biến mất ngoài khơi theo hướng đông bắc vào buổi chiều muộn ngày hôm qua. Sau đó, tất cả chỉ là một màu nước biển xanh đến nhức mắt. Một ngày mùa thu nắng đẹp và dịu nhẹ, vậy mà Asakawa đang phải đứng trên boong tàu và ngắm nhìn những con sóng trong tâm trạng một kẻ tử tù sắp bị đem ra hành quyết. Đưa mắt lên, gã trông thấy những đỉnh núi trên cao nguyên Izu chạy thành một đường mềm mại. Cuối cùng thì ngày định mệnh đã đến. Lúc này là mười giờ sáng, còn mười hai tiếng nữa. Chắc chắn thời khắc ấy sẽ đến. Thế là đã sắp một tuần trôi qua kể từ lúc gã xem cuốn băng ở Villa Log Cabin. Dài quá… Gã nghĩ. Tất nhiên, gã cảm thấy dài là bởi chỉ trong vỏn vẹn một tuần lễ gã đã phải trải qua tất cả các cung bậc của nỗi sợ hãi mà những người bình thường có mất cả một đời cũng không thể nào hiểu được.

    Asakawa không biết một ngày mắc kẹt trên đảo ấy sẽ có ảnh hưởng thế nào tới vận mệnh của gã. Trên điện thoại, do quá xúc động nên gã đã trách cứ Yoshino vì sự chậm trễ trong việc điều tra, nhưng lúc này, khi bình tĩnh nghĩ lại, gã thấy biết ơn vì thực ra Yoshino đã làm rất tốt. Nếu là gã, biết đâu sự nôn nóng đã chẳng khiến gã điều tra theo một hướng hoàn toàn nhầm lẫn?

    … Thế lại may. Cơn bão đã giúp mình.
    Asakawa nghĩ thế để khỏi thấy xót xa. Gã đang chuẩn bị tinh thần trước cái chết, để đừng hối hận rằng đáng lẽ mình phải làm thế này chứ không phải thế kia.

    Manh mối cuối cùng còn lại là ba trang fax gã đang cầm trên tay. Đó là những thông tin mà Yoshino phải mất nửa ngày để kiếm được và gửi cho gã hôm qua. Quả là đã tồn tại một công trình khác thường trước khi Pacific Land Nam Hakone được xây dựng ở khu vực đó. Tuy nói là khác thường chứ vào thời kỳ đó thì những công trình như thế nhiều nhan nhản. Ấy là một trại điều dưỡng lao.

    Ngày nay, lao là căn bệnh mà có lẽ không còn mấy ai thấy sợ khi nhắc đến, tuy nhiên, không hề quá khi nói rằng ta có thể bắt gặp cái tên này trong mọi cuốn tiểu thuyết thời tiền chiến. Động cơ để Thomas Mann viết nên Núi thiêng (Tên tiếng Đức là Der Zauberberg. Tác phẩm này được Thomas Mann hoàn thành năm 1924 và được coi là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của nền văn học Đức thế kỷ 20) là vi khuẩn lao và cảm hứng khiến Kajii Motojiro (Tiểu thuyết gia Nhật Bản (1901-1932). Các tiểu thuyết của ông chủ yếu lấy cảm hứng từ căn bệnh lao của mình) ngân lên những khúc ca thanh thản về sự tàn lụi của đời mình cũng chính là vi khuẩn lao. Tuy nhiên, với việc tìm ra streptomycin vào năm 1944 và hydrazides vào năm 1950, bệnh lao đã không còn cái hương vị văn học bấy lâu và trở thành một căn bệnh truyền nhiễm hạng bét. Từ triều Đại Chính đến Chiêu Hoà, số người chết vì bệnh lao mỗi năm lên tới hai trăm nghìn người, tuy vậy con số này đã đột ngột giảm xuống từ sau Thế chiến. Mặc dầu vậy, vi khuẩn lao chưa hề bi
    ến mất. Mỗi năm, vi khuẩn này vẫn cướp đi mạng sống của năm nghìn người.

    Vào thời kỳ bệnh lao hoành hành dữ dội nhất, để điều trị căn bệnh này người ta cần phải được nghỉ ngơi giữa một môi trường yên tĩnh và bầu không khí trong lành. Theo đó, tất cả các trại điều dưỡng lao đều được xây dựng trên vùng núi cao nhưng cùng với sự tiến bộ của phương pháp điều trị khoa học, số lượng bệnh nhân lao giảm dần và người ta buộc lòng phải thay đổi chức năng của những trại điều dưỡng này. Nghĩa là nếu không kết hợp với các chuyên khoa khác như khoa nội, khoa đường ruột hay khoa ngoại thì tình hình kinh doanh sẽ không được đảm bảo. Vào giữa thập niên 70, trại điều dưỡng Nam Hakone cũng phải đối mặt với yêu cầu này. Thế nhưng, tình thế lúc ấy lại vô cùng khó khăn. Vì nó ở vào một vị trí mà giao thông quá ư bất tiện. Trong trường hợp mắc lao, thời gian từ lúc nhập viện cho tới khi ra viện là rất dài, vì thế giao thông không trở thành vấn đề đáng ngại. Tuy nhiên, đó lại là đòn chí mạng giáng vào bất cứ ý định nào muốn biến nó thành một bệnh viện đa khoa. Và như thế, trại điều dưỡng Nam Hakone bị đó
    ng cửa vào năm 1972.

    Thế rồi nó được Pacific Resort Club, tập đoàn chuyên săn lùng các địa điểm xây dựng sân golf và khu resort để mắt tới. Năm 1975, Pacific Resort mua lại một dải cao nguyên Nam Hakone bao gồm cả khu đất cũ của trại điều dưỡng lao và bắt tay ngay vào công việc xây dựng sân golf. Sau đó, họ lần lượt hoàn thiện các khu biệt thự để bán, khách sạn, bể bơi, câu lạc bộ thể thao ngoài trời, sân tennis và các dịch vụ nghỉ dưỡng khác. Và cho đến tháng tư năm nay, tức là cách đây nửa năm, Villa Log Cabin được hoàn thành.

    - Chỗ đấy thế nào? – Vừa mới còn ở trên boong vậy mà không biết từ lúc nào Ryuji đã ngồi xuống cạnh Asakawa.

    - Chỗ nào?

    - Pacific Land Nam Hakone ấy.

    Gã nhớ ra là Ryuji chưa từng đến đó.

    - Cảnh đêm rất đẹp.

    Âm thanh của những trái bóng tennis đập binh binh dưới ánh đèn vàng vọt giữa một không gian mà cảm giác về sự sống rất mờ nhạt lại vang lên trong tai gã.

    … Bầu không khí đó từ đâu ra? Có bao nhiêu người đã bỏ mạng ở khu trại điều dưỡng ấy?

    Vừa nghĩ vậy, Asakawa vừa mường tượng lại khung cảnh mỹ lệ của Numazu và Mishima trải rộng trong đêm dưới chân gã.

    Asakawa đổi tờ fax đầu tiên xuống dưới rồi trải rộng tờ thứ hai và thứ ba lên đùi mình. Tờ thứ hai là sơ đồ phân bố các khu nhà của trại điều dưỡng, còn tờ thứ ba là hình hài hiện tại của trại điều dưỡng này: toà nhà ba tầng đỏm dáng được dùng làm trung tâm thông tin và nhà hàng ăn uống của Pacific Land Nam Hakone. Đó chính là toà nhà mà Asakawa đã xăng xái bước vào và hỏi một cậu bồi bàn về vị trí của Villa Log Cabin sau khi bất ngờ tấp xe ngay trước cửa. Asakawa hết nhìn tờ này rồi lại đến tờ kia. Cái dòng chảy của gần ba mươi năm đang hiện lên thành những hình vẽ. Nếu không lấy con đường lượn theo sườn núi làm chuẩn, gã không thể nào xác định được đâu đã từng là đâu trong quá khứ. Asakawa vừa hình dung ra quang cảnh thực tế trong óc vừa lần theo tấm bản đồ được vẽ trên tờ thứ hai để xem đã từng có cái gì tồn tại ở nơi mà ngày nay là Villa Log Cabin. Mặc dù không thể chỉ ra được vị trí một cách rõ ràng nhưng bằng cách xếp trùng hai tờ fax lên nhau, Asakawa nhận thấy rằng chẳng có gì ở khu vực của Villa Log
    Cabin cả. Chỉ có những bụi cây um tùm bao phủ sườn dốc bên khe núi.

    Asakawa quay trở lại với tờ fax đầu tiên. Ngoài sự biến đổi từ trại điều dưỡng Nam Hakone thành Pacific Land Nam Hakone, còn một thông tin quan trọng nữa: Nagao Jotaro, năm mươi bảy tuổi. Đó là một bác sỹ tư kinh doanh phòng khám khoa nội và khoa nhi ở Atami. Nagao làm bác sỹ tại trại điều dưỡng Nam Hakone trong năm năm từ 1962 đến 1967. Ấy là vào cái thuở ông ta vẫn còn trẻ, lúc vừa mới kết thúc chương trình bác sỹ nội trú xong. Những bác sỹ làm việc tại trại điều dưỡng Nam Hakone thời đó bây giờ chỉ còn lại hai người là Tanaka Yozo, đang sống với gia đình người con gái ở Nagasaki, và Nagao Jotaro. Viện trưởng và các bác sỹ khác đều đã qua đời. Nếu muốn có được thông tin về trại điều dưỡng Nam Hakone thì chỉ còn cách tìm đến chỗ bác sỹ Nagao. Tanaka Yozo thì già rồi, tuổi cũng ngấp nghé tám mươi, vả lại bọn họ lấy đâu ra thời gian để mà xuống tận Nagasaki.

    Asakawa đã van vỉ Yoshino tìm cho gã một nhân chứng sống, bất kể là ai. Yoshino phải kiềm chế lắm để khỏi trút lên gã một cơn bực tức và cuối cùng thì cũng tìm ra được cái tên của bác sỹ Nagao. Yoshino đã gửi cho gã tên và địa chỉ cùng với một tiểu sử rất thú vị liên quan tới tay bác sỹ này. Tại sao Yoshino lại quan tâm tới điều ấy? Có thể là vì trong lúc điều tra anh ta đã tình cờ nghe được rồi tiện tay chép vào một cách không chủ ý. Làm việc tại trại điều dưỡng từ năm 1962 đến năm 1967, chưa hẳn Nagao đã hoàn thành sứ mệnh của người thầy thuốc một cách tận tụy suốt năm năm ấy. Tuy rằng ngắn ngủi, nhưng Nagao đã từng từ một người đi chữa bệnh biến thành một kẻ bị chữa bệnh và được chuyển sang khu cách ly trong vòng hai tuần. Mùa hè năm 1966, do bất cẩn Nagao bị nhiễm virus đậu mùa từ một bệnh nhân trong lúc tới thăm khu cách ly ở trên núi. May mắn thay, vì được chủng đậu vài ba năm trước nên không có chuyện gì to tát xảy ra, căn bệnh qua đi với các triệu chứng nhẹ như đậu nổi không nhiều, cũng không bị sốt l
    ần thứ hai. Mặc dầu vậy, để tránh lây nhiễm sang người khác, ông ta buộc phải điều trị trong tình trạng cách ly. Điều thú vị là nhờ sự kiện đó mà tên tuổi của Nagao được xuất hiện trên các tài liệu y khoa. Bởi vì ông ta là bệnh nhân đậu mùa cuối cùng ở Nhật Bản. Không hiểu điều ấy có giá trị ở mức độ nào giữa cái bối cảnh mà sách Guiness đã ghi lại vô vàn các kỷ lục khác nhau như ngày nay, nhưng chắc chắn Yoshino phải cảm thấy rất thích thú. Bệnh đậu mùa, cái tên này đang dần trở thành một tử ngữ đối với thế hệ của Asakawa và Ryuji.

    - Ryuji, cậu đã bao giờ bị đậu mùa chưa? – Asakawa hỏi.

    - Cậu điên à? Làm gì còn thứ đó nữa. Chúng bị tuyệt diệt rồi.

    - Tuyệt diệt?

    - Con người đã xoá sạch chúng bằng trí tuệ của mình. Đậu mùa không còn tồn tại trên thế giới này nữa.

    Đúng như lời Ryuji, virus đậu mùa gần như đã biến mất khỏi hành tinh vào năm 1975 nhờ những chiến dịch tiêm phòng vắc-xin triệt để của Tổ chức Y tế Thế giới. Và tất nhiên, người ta còn lưu giữ tên tuổi của bệnh nhân đậu mùa cuối cùng trên thế giới. Đó là một thanh niên người Somalia bị nổi đậu vào ngày 26 tháng Mười năm 1977.

    - Virus đã hoàn toàn bị tiêu diệt? Cậu nghĩ là có thể làm được điều đó à?

    Không am hiểu về virus, nhưng Asakawa luôn bị ám ảnh bởi cái ấn tượng rằng, dù con người có không ngừng giết chúng thì chúng vẫn cứ thay hình đổi dạng và tồn tại dai dẳng.

    - Virus ấy à, chúng là một thứ nằm ở giữa giới hạn của sự sống và phi sự sống. Thậm chí còn có thuyết cho rằng bản chất của chúng là các gen di truyền trong tế bào người. Người ta không biết được chúng sinh ra từ đâu và bằng cách nào. Duy chỉ có một điều chắc chắn, đó là chúng có quan hệ chặt chẽ với quá trình hình thành và tiến hoá của sự sống.

    Ryuji xoè rộng bàn tay đang đan sau gáy. Mắt y long lanh.

    - Asakawa này, cậu không thấy kỳ thú à? Việc gen di truyền trong tế bào tách ra và trở thành một sinh vật khác ấy. Có khi, tất cả những gì là tương phản đều bắt nguồn từ một gốc cũng nên. Như ánh sáng và bóng tối chẳng hạn, trước vụ nổ lớn hẳn là chúng đã chung sống với nhau rất hoà thuận. Thiên thần và quỷ sứ cũng thế. Tóm lại, quỷ sứ chẳng qua chỉ là cách mà người ta gọi một thiên thần bị tha hoá chứ gốc gác thì giống nhau. Đàn ông và đàn bà cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Chúng ta vốn là loài lưỡng tính và ban đầu chúng ta cùng mang trên cơ thể mình cả bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cái giống như giun đất và sên trần. Cậu không thấy đó mới là hiện thân của sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt đối à?

    Nói rồi Ryuji cười hềnh hệch: “Vì đỡ phải mất công làm tình mà, hề hề.”

    Asakawa nhìn chằm chằm vào mặt Ryuji như muốn hỏi, có cái gì đáng cười ở đây nhỉ?

    … Ai dám bảo một sinh vật vừa đực vừa cái là hoàn hảo chứ.

    - Ngoài ra còn có loại virus nào bị tuyệt diệt nữa không?

    - À, nếu cậu quan tâm đến vậy sao không về Tokyo mà tra cứu?

    - Nếu mà về được.
    - Hề hề, đừng lo. Sẽ về được thôi.

    Vào lúc đó, con thuyền cao tốc chở Asakawa và Ryuji vừa đi được đúng nửa chặng đường từ đảo Oshima tới Ito. Nếu đáp máy bay thì cả hai đã có thể về được Tokyo sớm hơn, nhưng vì họ muốn ghé qua chỗ Nagao Jotaro ở Atami nữa nên họ quyết định đi thuyền.

    Bánh xe đu quay của công viên Korakuen đã hiện ra trước mắt. 10:50, thuyền cập cảng đúng như dự kiến. Asakawa chạy vội về phía bãi đỗ xe khi vừa bước xuống khỏi cầu thang.

    - Này, làm gì mà cuống lên thế.

    Ryuji đủng đỉnh theo sau. Phòng khám của Nagao nằm ở ngay gần ga Kinomiya. Asakawa sốt ruột chờ đợi Ryuji bước vào trong xe, thế rồi gã cho xe chạy thẳng về hướng thị trấn Atami đầy những dốc và đường một chiều.

    - Này, có khi chính quỷ sứ đã nhúng tay vào vụ này cậu ạ.

    Ryuji nói với bộ mặt nghiêm túc khi vừa vào xe. Asakawa thì không có thì giờ để đáp lại vì còn mải nhìn biển báo trên đường. Ryuji tiếp.

    - Quỷ sứ luôn hiện diện trên thế gian này dưới những bộ dạng khác nhau. Cậu có bao giờ nghe nhắc đến trận dịch hạch đã tràn qua hầu khắp các nước Châu Âu vào nửa cuối thế kỷ 14 chưa? Gần một nửa dân số đã thiệt mạng. Cậu có tin được không? Thử tưởng tượng xem, nếu mất đi một nửa, dân số Nhật Bản sẽ chỉ còn sáu mươi triệu. Tất nhiên, có một nghệ sỹ thời đó đã ví dịch hạch với quỷ sứ. Bây giờ cũng thế thôi, AIDS đáng bị gọi là quỷ sứ thời hiện đại lắm chứ? Nhưng tớ muốn nói với cậu rằng, quỷ sứ sẽ không đời nào đẩy con người tới chỗ diệt vong. Vì sao ấy à? Vì nếu con người không còn thì chúng cũng không còn. Giống như virus ấy, chúng sẽ không thể tồn tại được nếu vật chủ của chúng là tế bào bị huỷ hoại. Nhưng mà ngược lại, con người đã đẩy virus đậu mùa tới chỗ tuyệt diệt. Mà có thật không nhỉ? Có thật là con người làm được việc đó không?

    Ngày nay, người ta không thể nào tưởng tượng ra nổi sự đáng sợ của bệnh đậu mùa, căn bệnh đã từng hoành hành khắp thế giới và được liệt vào hàng có tỷ lệ tử vong cao nhất. Ngay cả ở Nhật Bản, bệnh này cũng là nguồn gốc của rất nhiều tín ngưỡng và mê tín do sự đau đớn mà nó gây ra. Xa xưa, người ta tin rằng kẻ gieo rắc căn bệnh này chính là Thần Đậu mùa. Liệu con người có thể đẩy các vị thần, hay nói đúng hơn là quỷ sứ, tới bờ vực của sự diệt vong? Đó chính là mối hoài nghi ẩn chứa trong câu hỏi của Ryuji.

    Asakawa không hề nghe câu chuyện của Ryuji. Ở một xó xỉnh trong đầu, gã thắc mắc tại sao y lại nói chuyện ấy vào lúc này. Còn thì gã phải tập trung toàn bộ thần kinh để đừng có nhầm đường và để làm sao có thể tới được phòng khám Nagao một cách nhanh nhất.
  11. MinhThy R.L.G

    11.

    Sau khi rẽ vào một con ngõ nhỏ trước ga Kinomiya, họ tới một ngôi nhà mái bằng dưới hiên có treo tấm biển đề “Phòng khám Nagao, Khoa nội, Khoa nhi”. Asakawa và Ryuji dừng lại một lát trước cửa. Nếu họ không lấy được thông tin gì từ Nagao thì coi như tại thời điểm đó thời gian đã hết. Thời gian không còn đủ dài để xoay sang một hướng mới. Nhưng rốt cuộc họ sẽ nghe được những gì? Chắc gì Nagao còn nhớ được cái sự kiện, có thể đã xảy ra hoặc không, về Yamamura Sadako với trại điều dưỡng Nam Hakone. Trừ Tanaka Yozo, các đồng nghiệp khác của ông ta ở trại điều dưỡng Nam Hakoen đều đã hưởng thiên mệnh. Tất nhiên họ có thể tìm ra được một vài cái tên trong số các y tá hồi đó, nhưng bây giờ thì đã muộn.

    Asakawa nhìn đồng hồ. 11:30. Còn hơn mười tiếng nữa. Tới lúc này bỗng nhiên Asakawa lại ngập ngừng không muốn đẩy cửa.

    - Cậu làm gì thế, mau vào đi.

    Ryuji đẩy lưng Asakawa. Y không hiểu tại sao Asakawa lại do dự sau một hồi cuống cuồng phóng xe tới đây. Vì Asakawa thấy sợ. Gã sợ niềm hy vọng cuối cùng đổ vỡ và mọi cơ may sống sót sẽ tuột khỏi tay gã. Ryuji đi lên trước và mở cửa.

    Có một chiếc ghế băng ngồi được ba người kê sát mép tường trong căn phòng chờ nhỏ hẹp. Thật hay là không có khách nào đến khám. Ryuji cúi người ngó qua ô cửa đăng ký và hỏi một nữ y tá trung tuổi đẫy đà.

    - Xin lỗi chị, cho tôi gặp bác sỹ một chút được không?
    Bà y tá ngước lên khỏi cuốn tạp chí rồi thong thả nói:

    - Các anh tới khám bệnh?

    - Không ạ, chúng tôi có việc muốn hỏi bác sỹ.

    Bà y tá gấp cuốn tạp chí lại, nhướng mày lên và đeo kính.

    - Các anh có việc gì?

    - Thì chúng tôi có chuyện muốn hỏi một chút.

    Asakawa sốt ruột thò mặt ra từ sau lưng Ryuji.

    - Bác sỹ có ở đây không ạ?

    Bà y tá lấy hai tay giữ gọng kính rồi lần lượt nhìn hai người.

    - Xin các anh cho biết các anh có việc gì.

    Giọng nói của bà ta gay gắt. Ryuji và Asakawa đứng thẳng người dậy.

    - Để cho một bà y tá thế này ngồi ở bàn đăng ký thì lấy đâu ra khách… – Ryuji nói, cố tình để bà ta nghe thấy.

    - Anh kia nói gì?

    … Chọc tức mụ ta lúc này thật chẳng hay. Asakawa nghĩ vậy rồi cúi đầu xuống. Đúng lúc ấy thì cánh cửa buồng khám bật mở và Nagao xuất hiện trong bộ bờ-lu trắng.

    - Có việc gì thế?

    Tuy bị hói hoàn toàn nhưng trông Nagao trẻ hơn tuổi năm mươi bảy của mình nhiều. Ông ta cau mày nghi ngại nhìn hai gã đàn ông đang đứng ở lối vào.

    Asakawa và Ryuji đồng thời ngoái đầu về phía có giọng nói của Nagao, thế rồi, đúng cái khoảnh khắc nhìn thấy khuôn mặt ấy, cả hai bỗng cùng à lên một tiếng.

    … Chưa biết chừng Nagao lại có được thông tin về Yamamura Sadako. Không hề đùa. Nhìn một cái là biết ngay.

    Như có dòng điện chạy qua đầu, cảnh phim cuối cùng trong đoạn băng đã ăn sâu vào trí óc Asakawa lập tức hiện lên. Khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của một người đàn ông đang thở phì phò được quay cận cảnh, đôi mắt vằn máu. Trên bả vai có một vết thương đang mở toang hoác, máu từ vết thương nhỏ xuống mắt và che kín võng mạc. Cái cảm giác nghẹt thở dữ dội như có ai đè lên ngực và khuôn mặt người đàn ông ẩn đầy sát khí. Khuôn mặt ấy chính là Nagao, đang đứng đây trước mặt gã. Asakawa không thể nhìn nhầm dù cho ông ta đã già đi.

    Asakawa và Ryuji đưa mắt nhìn nhau. Ryuji chỉ Nagao rồi bắt đầu cười.

    - Ha ha ha, trò chơi sắp sửa thú vị rồi đây. Chà chà, thật không ngờ lại được hạnh ngộ tại nơi này…

    Nagao khó chịu ra mặt với cái lối hai gã đàn ông không hề quen biết đang nhìn mình. “Có việc gì, hai anh kia!”, ông ta lớn tiếng. Ryuji không thèm để ý đến điều đó sấn sổ bước về phía Nagao và tóm chặt ve áo. Nagao cao hơn Ryuji những mười xăng-ti-mét. Ryuji kéo sát tai Nagao về phía miệng mình bằng đôi cánh tay lực lưỡng, rồi sau đó, trái ngược hẳn với sức mạnh kinh hồn của đôi cánh tay, y hỏi bằng một giọng nhát gừng, dịu dàng và chậm rãi.

    - Ba mươi năm trước, ông, đã làm gì, Yamamura Sadako?

    Cần phải mất vài giây để câu nói có thể đi được vào đầu Nagao. Ông ta đảo mắt khắp nơi như đang lục lại quá khứ. Thế rồi cái ký ức không thể quên kia vừa thức giấc thì sức lực cũng tuồn tuột rời bỏ ông ta. Ryuji xốc cái cơ thể đang mất dần ý thức của Nagao lên rồi dựa vào tường. Không phải Nagao thấy choáng váng vì ký ức. Mà bởi một nỗi sợ hãi không tên đã chạy khắp cơ thể khi trong óc ông ta chợt loé lên câu hỏi: “Tại sao một thằng cha căng chú kiết mới ba mươi tuổi lại biết được chuyện này?”

    - Bác sỹ! – Bà y tá Fujimura kêu lên lo lắng.

    - Thế nào, ta nghỉ trưa thôi chứ?

    Ryuji đưa mắt ra hiệu với Asakawa. Asakawa kéo tấm rèm trước cửa để những người tới khám khỏi vào trong.

    - Bác sỹ!

    Fujimura không biết phải xử trí ra sao, bà ta lóng ngóng chờ lệnh bác sỹ. Thần kinh của Nagao thì đang căng ra như dây đàn để nghĩ cách đối phó.

    Con mụ ngồi lê đôi mách này mà biết hết chuyện thì còn gì là thể diện. Nghĩ vậy, Nagao giả bộ điềm nhiên nói.

    - Cô Fujimura, đến giờ nghỉ trưa rồi. Cô có thể đi ăn.

    - Nhưng, thưa bác sỹ…

    - Tôi đã bảo cô cứ đi đi, không cần lo cho tôi.

  12. MinhThy R.L.G

    Tự dưng có hai kẻ lạ mặt bước vào rồi thì thầm điều gì đó với bác sỹ thế là bác sỹ bỗng nhiên chóng mặt và suýt nữa thì té xỉu… Chẳng hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra nên Fujimura vẫn cố nán lại. Chỉ khi Nagao quát lớn “Cô có đi ngay không!”, bà ta mới giật nảy mình và lao ra khỏi cửa.

    - Tốt rồi, ta nói chuyện nhé.

    Ryuji bước vào buồng khám và Nagao theo sau hệt như một bệnh nhân vừa được thông báo đã mắc bệnh ung thư.

    - Tôi xin lưu ý bác sỹ một điều đó là không được nói dối. Tôi và người này đã tận mắt chứng kiến và biết tất cả.

    Ryuji chỉ sang Asakawa rồi đưa ngón tay đó lên mắt mình.

    - Chuyện đó thật vớ vẩn.

    … Bọn chúng nói đã chứng kiến? Không đời nào. Trong khu rừng ấy làm gì có ai. Và thử nhìn xem lúc đó chúng bao nhiêu tuổi…

    - Ông không tin cũng phải thôi. Nhưng mà này, bọn này biết rất rõ cái mặt ông đấy.

    Ryuji đột nhiên đổi giọng.

    - Thôi được, ta hãy nói về đặc điểm trên người ông vậy. Bên vai phải của ông vẫn còn một vết sẹo. Thế nào, có đúng không?

    Nagao tròn mắt, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Ryuji ngừng lại một lúc đủ lâu rồi nói tiếp.

    - Để tôi nói cho ông biết tại sao ông lại có vết thương ở vai nhé! – Ryuji trườn đầu về phía trước và đưa miệng tới chỏm vai của Nagao. – Ông đã bị Yamamura Sadako cắn. Như thế này. Đúng không? – Ryuji há miệng rồi giả vờ ngoạm xuống chiếc áo bờ-lu.

    Răng Nagao càng đập mạnh hơn, ông ta đang cố gắng diễn đạt một điều gì đó nhưng hai hàm răng không ăn khớp nhau nên không bật được thành lời.

    - Ông nắm được vấn đề rồi chứ? Nghe đây, bọn này sẽ không nói những chuyện ông kể với bất kỳ ai. Bọn này hứa. Chỉ có điều, bọn này muốn biết tất cả những gì đã xảy ra với Yamamura Sadako.

    Mặc dù không thể nghĩ ngợi bình thường được nữa, song Nagao vẫn cảm thấy có cái gì đó thiếu logic. Nếu đã chứng kiến sự việc ấy rồi thì còn cần gì phải tới hỏi mình nữa? Mà gượm đã, bản thân cái việc nhìn thấy đã là phi lý. Làm gì có chuyện nhìn thấy được. Hồi ấy có khi bọn chúng còn chưa ra đời nữa là. Vậy thì nghĩa là sao? Rốt cuộc bọn chúng nói đã nhìn thấy cái gì? Càng nghĩ càng mâu thuẫn khiến cho cái đầu của Nagao nhức nhối như muốn nổ tung.

    - Hề hề hề…

    Ryuji vừa cười vừa nhìn Asakawa. Đôi mắt y nói lên tất cả. Làm cho hắn sợ đến thế thì có gì mà không phun ra hết.

    Quả thế, Nagao bắt đầu kể. Bản thân ông ta cũng không hiểu vì đâu mà mình lại nhớ đến từng chi tiết như vậy. Thế rồi trong khi kể, ngay cả các cơ quan cảm giác trên khắp người Nagao cũng bắt đầu nhớ lại sự hưng phấn khi ấy. Cái cảnh tượng ấy, hơi nóng, làn da, tiếng ve, mùi mồ hôi và cỏ, rồi cả cái giếng cũ…

    “Nguyên nhân nào đã khiến tôi gây ra chuyện ấy? Có thể là vì cơn sốt và cơn đau đầu đã làm tôi mất đi khả năng tự chủ. Triệu chứng ấy chính là triệu chứng sơ nhiễm của bệnh đậu mùa sau khi đã bước qua thời kỳ ủ bệnh, nhưng tôi không tin rằng mình lại mắc một căn bệnh như thế. May mà không một ai trong trại bị lây nhiễm và không có gì hệ trọng xảy ra, chứ nếu các bệnh nhân lao trong trại mà mắc phải loại virus này thì tôi còn hổ thẹn đến tận bây giờ.”

    “Đó là một ngày nóng bức. Tôi phát hiện ra một lỗ thủng lớn bằng đồng xu trên tấm phim chụp cắt lớp vùng ngực của một bệnh nhân mới nhập viện. Thế rồi tôi bảo với anh ta: “Anh cứ xác định là sẽ mất một năm” và viết kết luận vào tờ phiếu khám bệnh mà chắc chắn anh ta sẽ phải nộp cho công ty. Làm xong những việc đó tôi đi ra ngoài vì không thể nào chịu đựng được nữa, song việc hít thở không khí bên ngoài cũng chẳng hề giúp cho tôi bớt cơn đau đầu. Mặc dầu vậy, cuối cùng tôi vẫn quyết định bước xuống những bậc cấp bằng đá bên cạnh nhà điều trị để trốn vào dưới bóng râm trước sân trại. Đúng lúc ấy tôi phát hiện ra một cô gái trẻ đang đứng tựa mình vào một thân cây và nhìn xuống dưới núi. Cô ta không phải là bệnh nhân ở đây. Cô ta tên là Yamamura Sadako, con gái Ikuma Heihachiro, cựu phó giáo sư đại học T, người đã nhập viện từ rất lâu trước khi tôi vào làm việc ở đây. Tôi nhớ rất rõ cái tên ấy vì họ của hai bố con không giống nhau. Suốt một tháng đó Yamamura Sadako thường xuyên lui tới trại điều dưỡng Nam Hakone,
    nhưng hầu như cô ta không mấy khi ở bên người cha và cũng không buồn hỏi các bác sỹ về tình trạng của cha mình. Cô ta chỉ gây cho tôi một cảm giác rằng cô ta tới đây là để thưởng ngoạn cảnh non xanh núi thúy của vùng cao nguyên này. Tôi ngồi xuống bên cạnh, mỉm cười và bắt chuyện với cô ta: “Bố em thế nào rồi?”, nhưng cô ta lắc đầu tỏ ý không muốn nghe về bệnh tình của cha mình. Mặc dầu vậy, cô ta biết chắc cha mình sắp chết. Tôi đoán được điều đó qua cách nói của cô ta. Chính xác hơn cả sự tiên lượng của các bác sỹ, cô ta biết trước rằng cha mình sẽ ra đi.”

    “Cứ như thế, tôi ngồi bên cạnh Sadako và hỏi chuyện cuộc sống, gia đình cô ta, rồi bỗng nhiên tôi nhận ra rằng cơn đau đầu dữ đội đã dịu đi tự lúc nào. Nhưng thay vào đó là cảm giác rạo rực kỳ lạ kèm theo một cơn sốt. Một nguồn sinh lực không rõ từ đâu bừng bừng hun nóng dòng máu trong tôi. Tôi kín đáo quan sát gương mặt Sadako. Tôi luôn ngạc nhiên rằng tại sao lại có một khuôn mặt phụ nữ hoàn hảo đến thế trên cõi đời này. Tôi không hiểu thước đo của vẻ đẹp nằm ở đâu, song bác sỹ Tanaka, người lớn hơn tôi những hai mươi tuổi, cũng nói như vậy. Ông bảo rằng ông chưa từng gặp một người con gái nào đẹp hơn Yamamura Sadako. Cuối cùng thì tôi cũng thắng được cơn khó thở vì sốt, tôi khẽ đặt tay lên vai cô ta và bảo: Chúng ta ra một chỗ râm mát hơn nói chuyện nhé.”

    “Sadako gật đầu và chuẩn bị đứng dậy không một chút nghi ngờ. Thế rồi trong lúc khom người định đứng dậy, tôi đã vô tình nhìn thấy bầu vú xinh xắn bên trong tấm áo cánh màu trắng của Sadako. Sao mà trắng quá! Đồng thời với ý nghĩ ấy, tôi cảm thấy một cơn chấn động mạnh như thể toàn bộ đầu óc mình đang bị nhuộm trong một màu sữa đục và mọi khả năng suy nghĩ bình thường đều biến mất.”

    “Cô ta lấy tay giũ giũ lớp bụi đang bám trên chiếc váy dài mà không hề để ý thấy sự rạo rực trong tôi. Cái cử chỉ ấy mới ngây thơ và đáng yêu làm sao.”

    “Giữa tiếng ve như trút, chúng tôi đi mãi vào trong cánh rừng rậm rạp. Hai chân tôi cứ thế bước theo một hướng mà không cần định rõ nơi cần đến. Mồ hôi chảy dọc sống lưng, tôi cởi tấm áo sơ mi ra và chỉ còn độc một chiếc may ô trên người. Tiến theo lối mòn do thú rừng để lại, chúng tôi bắt gặp một ngôi nhà cũ kỹ nằm trên bờ dốc của một khe núi. Có lẽ phải hơn mười năm rồi không có người ở. Vách tường bằng gỗ đã bắt đầu mục nát và mái nhà thì có thể sập xuống bất cứ lúc nào. Bên kia ngôi nhà là một cái giếng, vừa nhìn thấy nó cô ta đã kêu lên: “Ôi, khát nước quá!” rồi chạy về phía đó. Cô ta cúi người xuống để ngó vào trong. Chỉ cần nhìn qua cũng biết được nó là một cái giếng bỏ hoang. Rồi đến tôi cũng chạy về phía cái giếng. Không phải vì tôi muốn nhìn xuống giếng. Thứ mà tôi muốn ngắm chính là bầu vú của Sadako lúc cô ta đang cúi người. Tôi chống hai tay lên thành giếng và nhìn thấy nó từ một khoảng cách rất gần. Một luồng khí lạnh ẩm ướt bốc lên từ dưới lòng đất tối đen phả vào mặt tôi, nhưng hoàn toàn không
    đủ để xua đi sự thôi thúc của cơn thèm khát. Tôi không hiểu sự thôi thúc ấy từ đâu ra. Dường như cơn sốt của bệnh đậu mùa đã làm chức năng tự kiềm chế mất tác dụng… Tôi xin thề là trước đó tôi chưa bao giờ bị cám dỗ bởi một cơn dục vọng nào như thế.”

    “Tôi bất giác đưa tay ra và chạm phải một bộ ngực căng tròn. Cô ta giật mình ngẩng lên. Thế rồi trong đầu tôi có cái gì đó vỡ tung. Ký ức sau đấy thật mơ hồ, thứ mà tôi còn nhớ được chỉ là những hình ảnh đứt đoạn. Lúc tỉnh lại, tôi nhận thấy mình đang đè Sadako xuống đất. Tôi đã vén vạt áo của cô ta lên đến tận ngực, rồi… ký ức của tôi bị xóa nhòa cho tới khi tôi gặp phải một sự phản kháng dữ dội và bị cắn mạnh vào vai phải. Cảm giác nhức nhối đã đưa tôi về với thực tại, tôi thấy máu từ vai mình nhỏ xuống mặt cô ta. Máu tràn vào mắt khiến cô ta lúc lắc cái đầu sang hai bên. Tôi để cho cơ thể mình hòa cùng cái cử động nhịp nhàng ấy. Không hiểu bộ mặt mình lúc này ra sao? Và Sadako đang nhìn tôi với ánh mắt như thế nào? Trong con mắt cô ta, chắc hẳn tôi phải là một con thú dữ… Nghĩ vậy, tôi kết thúc mọi chuyện.”

    “Vẫn giữ nguyên ánh mắt dữ dội chiếu vào tôi khi hành vi đồi bại của tôi đã chấm dứt, Sadako chống chân lên trong tư thế nằm ngửa rồi khéo léo dùng hai khuỷu tay chậm chạp rê người về phía sau. Tôi nhìn cái cơ thể ấy thêm một lần nữa, vì ngỡ rằng mình nhìn nhầm. Để mặc tấm váy màu ghi nhàu nhĩ rối bời trên bụng và không buồn giấu đi bộ ngực trần, Sadako cứ thế lùi lại phía sau. Dưới ánh nắng đang chiếu xuống khoảng giữa hai bắp đùi, một đùm thịt nhỏ màu đen lồ lộ hiện ra. Tôi đưa mắt nhìn lên trên, vẫn là bầu vú tuyệt đẹp. Tôi lại đưa mắt nhìn xuống, dưới vùng xương mu được bao phủ bởi một lớp lông là hai tinh hoàn đã có sự phân giống và trưởng thành rõ rệt.”

    “Nếu không phải là bác sỹ, có khi tôi đã bủn rủn cả người vì quá kinh ngạc. Tôi biết chứng bệnh này qua các bức hình minh họa trong sách giáo khoa. Hội chứng tinh hoàn nữ hóa. Hội chứng này cực kỳ hiếm gặp nên tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra mình sẽ nhìn thấy nó bên ngoài sách vở và lại trong một bối cảnh như vậy. Người mắc bệnh hội chứng tinh hoàn nữ hóa, một dạng của lưỡng giới giả nam, có hình thái cơ thể hoàn toàn là nữ, nhưng mặc dù có vú, âm vật và các môi, âm đạo nhưng hầu hết không có tử cung. Nhiễm sắc thể giới tính của những người mắc hội chứng này là XY nên thực chất họ là nam giới, song không hiểu sao, họ bao giờ cũng rất đẹp.”

    “Yamamura Sadako vẫn nhìn xoáy vào tôi. Bởi có lẽ đấy là lần đầu tiên bí mật về cơ thể của cô ta bị một người khác ngoài gia đình mình nhìn thấy. Tất nhiên, cho tới trước đó cô ta vẫn còn là trinh nữ. Tôi tìm cách biện minh cho hành vi đồi bại của mình rằng, thử thách ấy là hoàn toàn cần thiết cho cuộc sống trong tương lai của cô ta. Thế rồi đột nhiên có một tiếng nói chui vào đầu tôi.

    … Ta sẽ giết mi!

    Lập tức, bằng thứ thần giao cách cảm mà cô ta truyền tới tôi, tôi linh cảm được rằng lời cảnh báo với một ý chí sắc nhọn ấy không phải là trò đùa. Không có thời gian dành cho bất cứ sự nghi ngờ nào, thể xác tôi tiếp nhận điều đó như một sự thật hiển nhiên. Nếu không ra tay trước thì chính mình sẽ bị giết. Bản năng phòng vệ của cơ thể ra lệnh cho tôi. Một lần nữa, tôi chồm lên người cô ta, nắm lấy chiếc cổ nhỏ bé bằng hai bàn tay rồi dồn toàn bộ trọng lượng của mình lên đó. Thật ra là lần này cô ta gần như không chống cự. Cô ta nhắm mắt lại thanh thản tựa như đang muốn chết và để mặc cho sức lực từ từ thoát ra khỏi người mình.”

    “Không kịp kiểm tra xem cô ta đã tắt thở hay chưa, tôi bế cô ta lên và tiến về phía cái giếng. Ngay cả khi ấy, tôi cũng cảm thấy như hành động của mình đã đi trước ý chí. Nghĩa là, ban đầu tôi bế cô ta lên không phải với mục đích thả cô ta xuống giếng, mà ý định ấy chỉ nảy ra khi cái miệng giếng hình tròn đen ngòm bất chợt đập vào mắt, đúng lúc tôi vừa xốc cái cơ thể đó lên. Tôi cảm thấy như mọi thứ đều đã được sắp sẵn cho mình vậy. Mà không, nói đúng hơn thì đó là cái cảm giác như tôi đang bị sai khiến bởi một ý nghĩ không phải của mình. Tôi mặc nhiên biết được điều gì sẽ xảy ra sau đó và nghe thấy một giọng nói ở sâu trong tai bảo rằng hiện thực này là một giấc mơ.”

    “Không thể thấy được gì khi nhìn từ trên xuống vì đáy giếng tối om. Tôi biết rằng nước rất cạn qua mùi đất bốc lên. Tôi buông tay. Thân thể Yamamura Sadako trượt theo thành giếng và chìm vào lòng đất sau khi rơi tùm xuống đáy nước. Tôi cố nhìn cho tới lúc mắt mình quen với bóng tối mà vẫn không hề thấy bóng dáng của cái xác ấy đâu. Mặc dầu vậy, tôi không thể nào xua đi được nỗi lo sợ nên đã quyết định dùng đất đá để chôn vùi cô ta vĩnh viễn. Nhưng khi vừa ném được một vốc đất đầy và năm, sáu hòn đá xuống, tôi bỗng không thể tiếp tục được nữa. Âm thanh trầm đục của những tảng đá rơi vào người Sadako vang lên từ đáy giếng đã kích thích trí tưởng tượng của tôi. Tôi xót xa khi nghĩ tới cái thân hình đẹp đến bệnh hoạn ấy đang bị những tảng đá hủy hoại. Tôi biết mình mâu thuẫn. Tôi vừa muốn tiêu diệt cái cơ thể ấy đi vừa không muốn làm tổn thương nó.”

    Asakawa đưa ra trước mặt Nagao một tờ fax. Đó là sơ đồ bản vẽ của Pacific Land Nam Hakone.

    - Cái giếng ấy nằm ở đâu? – Asakawa sấn sổ hỏi.

    Phải khó khăn để Nagao hiểu được ý nghĩ của bản vẽ, nhưng khi cho ông ta biết nhà hàng ăn uống nằm trên vị trí của trại điều dưỡng trước đây thì ông ta dần dần lấy lại được sự thông thổ của mình.

    - Tôi nghĩ nó ở đây. – Nagao chỉ vào một địa điểm áng chừng trên đó.

    - Không sai chút nào. Chính là khu vực Villa Log Cabin. – Asakawa đứng dậy và nói. – Nào, ta đi thôi!

    Nhưng Ryuji vẫn thong thả.

    - Chưa phải vội. Chúng ta vẫn còn có vài việc cần làm rõ với bố già này. À mà, ông gọi cái hội chứng gì gì ấy là gì nhỉ…

    - Hội chứng tinh hoàn nữ hóa.

    - Đàn bà bị hội chứng ấy có đẻ được con không?

    Nagao lắc đầu.

    - Không thể.

    - Tôi muốn xác nhận lại một việc. Ấy là lúc cưỡng bức Sadako, ông đã mắc bệnh đậu mùa rồi đúng không?

    Nagao gật đầu.

    - Thế thì người mắc bệnh đậu mùa cuối cùng của Nhật Bản phải là Yamamura Sadako chứ hả?

    Trước lúc chết, đúng là virus đậu mùa đã xâm nhập vào cơ thể Sadako. Nhưng cô ta đã chết ngay sau đó. Virus không thể tồn tại nếu vật chủ bị tiêu diệt. Nên không thể nói rằng cô ta đã bị nhiễm. Không đáp lại vì không biết phải trả lời ra sao, Nagao chỉ còn cách cụp mắt xuống để tránh cái nhìn của Ryuji.

    - Còn làm gì thế, mau đi thôi! – Asakawa đứng ngoài cửa giục Ryuji.

    - Chúc vui vẻ, đồ chết tiệt!

    Ryuji lấy ngón tay trỏ búng vào mũi Nagao rồi đuổi theo sau Asakawa.
  13. MinhThy R.L.G

    12.

    Không thể đưa ra một lời giải thích thật logic, nhưng bằng kinh nghiệm có được qua những cuốn tiểu thuyết và những bộ phim truyền hình tẻ nhạt, Asakawa cảm thấy rằng, một khi câu chuyện đã tiến triển theo hướng này thì họ cần phải hành động theo một cách thức truyền thống. Có một nhịp độ nhất định trong những diễn biến của câu chuyện. Nghĩa là, mặc dù họ không cố ý đi tìm chỗ ẩn náu của Yamamura Sadako, nhưng giữa lúc đang loay hoay thì mọi thứ bỗng nhiên sáng tỏ, cả cái tai họa giáng xuống đầu cô ta và nơi cô ta bị vùi lấp. Vì vậy, lúc nghe Ryuji nói: “Có cửa hàng ngũ kim nào lơn lớn thì cậu dừng xe lại cho tớ”, cái niềm tin cho rằng Ryuji cũng nghĩ giống mình đã làm Asakawa yên tâm. Asakawa vẫn chưa hình dung ra công việc ấy sẽ vất vả nhường nào. Nếu cái giếng cũ vẫn chưa bị lấp kín thì việc tìm ra nó ở xung quanh Villa Log Cabin là không hề khó. Và khi đã xác định được vị trí của cái giếng thì việc đưa hài cốt của Yamamura Sadako lên cũng dễ như trở bàn tay. Gã thấy mọi thứ đều đơn giản, mà bởi vì gã muốn nghĩ như thế. Một giờ chiều, ánh nắng hắt lên con đường dốc chói chang. Chính cái khung cảnh thanh bình của khu phố vào một ngày thường và cái chói chang đã làm mờ đi trí tưởng tượng của gã. Asakawa quên mất rằng, dù chỉ dưới độ sâu bốn năm mét, song cái đáy giếng chật hẹp lại là một thế giới hoàn toàn khác so với mặt đất tràn trề ánh nắng.

    Asakawa đạp phanh lúc nhìn thấy tấm biển của cửa hàng ngũ kim Nishizaki. Nhìn những chiếc thang gấp và máy cắt cỏ dựng ngoài mặt tiền, gã chắc mẩm rằng có thể mua được mọi thứ cần thiết ở đây.

    - Cậu thấy cần cái gì thì mua.

    Nói rồi Asakawa chạy về phía bốt điện thoại gần đó. Gã dừng lại trước cửa rồi rút ra một tấm thẻ điện thoại từ trong ví.

    - Này, không phải lúc để cậu buôn điện thoại đâu đấy.

    Lời phàn nàn của Ryuji không tới được tai Asakawa, Ryuji lẩm bẩm một mình rồi đi vào trong cửa hàng, y lần lượt lượm từng thứ một: dây thừng, xô, xẻng, bánh xe ròng rọc, đèn rọi…

    “Có thể đây sẽ là cơ hội cuối cùng để được nghe giọng nói của hai mẹ con”, cơn nóng ruột ấy đã thôi thúc gã. Vì gã thừa hiểu rằng thời gian không còn nhiều. Chín tiếng là thời hạn cuối cùng của gã. Asakawa cắm thẻ điện thoại vào và bấm số nhà vợ ở Ashikaga. Người nhấc ống nghe là ông bố vợ.

    - Con Asakawa đây ạ, bố gọi Shizu và Yoko hộ con được không?

    Ngay lập tức đòi vợ và con đến nghe máy mà không một lời hỏi thăm bố vợ quả thật là vô lễ. Nhưng gã không còn thời gian để lo lắng tới tâm trạng của bố vợ. Ông đang định nói điều gì đó nhưng đã ngay lập tức quay sang gọi Shizu và Yoko, có vẻ như ông hiểu được tình thế cấp bách của gã. Thật may mắn vì không phải mẹ vợ gã cầm máy trước. Nếu là bà, gã sẽ phải thể hiện một màn chào hỏi dài lê thê và khó lòng mà tìm được cơ hội để chấm dứt.

    - Vâng, em nghe đây.

    - Shizu à?

    Gã thấy nhớ giọng nói của vợ quá.

    - Anh đang ở đâu?

    - Atami. Em thế nào?

    - Không, cũng bình thường thôi. Yoko quấn ông bà ngoại lắm.

    - Con có ở đấy không?

    Gã nghe thấy con. Nó vẫn chưa nói được thành lời, chỉ là những âm thanh bập bập. Có tiếng nó đang ra sức trèo lên đùi mẹ để đòi bố.

    - Yoko, pa pa đây.

    Shizu áp ống nghe vào tai Yoko.

    - Pặp… pặp… pặp…

    Đấy là âm thanh mà gã nghe được. Hẳn là con gái gã muốn gọi pa pa. Tiếng hổn hển và tiếng cọ sát của miệng và má con bé vào ống nghe còn lớn hơn cả tiếng nó nói. Nhưng có lẽ chính vì thế mà gã cảm thấy con gái ở gần hơn. Gã bỗng thấy ngực mình nhói lên, gã muốn ngay lập tức rời bỏ nơi này để về ôm lấy Yoko.

    - Chờ pa pa nhé Yoko! Pa pa sẽ đi píp píp về đón con.

    - Thật không anh? Bao giờ thì anh về?

    Shizu đã nghe máy từ lúc nào.

    - Chủ nhật. Phải rồi. Chủ nhật anh sẽ thuê ô tô, chúng ta sẽ lái xe đi Nikko chơi rồi về nhà.

    - Ôi, thật hả anh? Yoko ơi, thích quá, pa pa hứa sẽ đưa mẹ con mình đi chơi vào Chủ nhật đấy.

    Gã thấy trong tai nóng bừng. Liệu lời hứa ấy có nên không? Bác sỹ không bao giờ được phép làm cho bệnh nhân hy vọng thái quá, để giảm nhẹ cảm giác bị sốc về sau.

    - Anh sắp giải quyết xong vụ việc ấy chưa?

    - Sắp xong rồi.

    - Khi nào mọi chuyện kết thúc, anh phải kể lại cho em nghe từ đầu đấy nhé. Anh hứa rồi đấy.

    Gã đã hứa với vợ là sẽ kể hết mọi chuyện khi xong việc, nhưng bù lại, cô không được hỏi gì hết. Vợ gã đã làm đúng như lời gã dặn.

    - Này, cậu định nói đến bao giờ đấy?

    Có tiếng Ryuji từ đằng sau. Quay đầu lại, Asakawa thấy y đang mở cốp xe và quẳng món đồ lề mua được vào trong.

    - Anh sẽ gọi điện lại sau. Tối nay thì chắc là không được.

    Asakawa đưa tay lên phím ngắt. Gã chỉ cần ấn xuống là điện thoại mất tín hiệu. Gã không hiểu mình gọi điện thoại để làm gì. Chỉ để nghe giọng vợ con hay là để thông báo một điều gì đó quan trọng hơn? Nhưng dù cho gã có kéo dài cuộc trò chuyện ra cả tiếng đồng hồ, thì khi dập máy rồi, chắc chắn gã sẽ lại tiếc rằng mình vẫn chưa nói được một nửa điều muốn nói. Rốt cuộc là chẳng khác gì nhau. Asakawa đặt tay lên phím ngắt, thả lỏng người. Đằng nào thì tất cả cũng sẽ kết thúc vào mười giờ đêm nay. Mười giờ đêm nay…

    Đường lên núi giữa trưa, ánh nắng làm nhoà đi cái khung cảnh quái đản của đêm hôm trước khiến Pacific Land Nam Hakone phảng phất bầu không khí của một cao nguyên rất đỗi bình thường. Tiếng bóng tennis nghe cũng căng hơn. Những trái bóng vun vút lao qua lưới với thứ âm thanh khô khốc chứ không phải cái dư âm binh binh kéo dài. Núi Phú Sỹ trắng mờ trước mặt. Những mái nhà kính trồng rau nằm rải rác dưới chân núi ánh lên màu bạc.

    Buổi chiều một ngày thường, Villa Log Cabin không có khách. Chắc chỉ có vào thứ Bảy, Chủ nhật và đợt nghỉ hè, khu biệt thự cho thuê này mới kín phòng. Hôm nay, ngôi biệt thự B-4 còn trống. Để mặc cho Ryuji hoàn tất thủ tục, Asakawa mang hành lý vào và thay sang một bộ cánh nhẹ hơn.

    Asakawa đưa mắt nhìn căn phòng hồi lâu. Vào cái đêm cách đây một tuần, gã đã bán sống bán chết bỏ chạy khỏi ngôi nhà ma ám này. Thậm chí, trong lúc cố nhịn cơn buồn nôn để chạy vào toilet, tý nữa thì gã đã vãi cả ra quần… Và gã vẫn còn nhớ như in dòng chữ viết nghịch ngợm gã nhìn thấy bên cạnh lúc quỳ xuống bồn cầu. Asakawa mở cửa toilet. Vẫn là dòng chữ ấy ở vị trí ấy.

    Hơn hai giờ. Hai người đi ra ban công, vừa nhìn xuống những bụi cỏ quanh đó vừa ăn chỗ cơm hộp mua trên đường. Sự nôn nóng suốt từ lúc gặp bác sỹ Nagao đến giờ bỗng trở nên nguôi ngoai. Dù ở bất kỳ tình huống gấp gáp nào, bao giờ cũng có lẫn những khoảng thời gian trôi đi chậm chạp như thế này. Không ít lần Asakawa chợt nhận ra rằng, mình đã lãng phí thời gian quý giá, vào những giây phút thơ thẩn ngồi ngắm cà phê nhỏ xuống từ ống xi-phông mặc cho thời hạn nộp bản thảo đang đến gần.

    - Phải chén cho đẫy cái đã. – Ryuji nói.

    Y đã mua hai phần cơm hộp cho hai người. Asakawa có vẻ không đói, chốc gã lại dừng đũa và chăm chú quan sát căn phòng. Như nghĩ ra điều gì đó, gã hỏi Ryuji.

    - Này, chúng ta phải làm rõ xem chúng ta sẽ làm gì chứ?

    - Tìm ra rồi thì làm gì?

    - Mang về cho yên nghỉ ở Sashikichi.

    - Vậy thì câu thần chú là… mong muốn đó của Sadako?

    Ryuji và đầy một mồm cơm, thong thả nhai và nhìn mông lung vào một điểm. Qua vẻ mặt ấy có thể thấy rằng ngay bản thân y cũng chưa hoàn toàn đồng ý với câu trả lời của mình. Asakawa bỗng thấy sợ. Gã cần một chỗ bấu víu chắc chắn cho cái cơ hội cuối cùng. Gã không thể làm lại.

    - Đó là điều duy nhất mà chúng ta có thể làm được vào lúc này.

    Ryuji nói vậy rồi quăng hộp cơm rỗng ra ngoài.

    - Thế cậu nghĩ sao về khả năng Sadako muốn chúng ta trả thù kẻ đã giết mình?

    - Nagao Jotaro? Cậu muốn nói rằng nếu chúng ta khử hắn đi thì Yamamura Sadako sẽ yên lòng ấy à?

    Asakawa nhìn thật sâu vào đáy mắt Ryuji ngõ hầu tìm ra được tâm địa thật của y. Biết đâu, Ryuji sẽ giết tay bác sỹ Nagao để cứu mạng mình trong trường hợp việc mang hài cốt Sadako về an táng ở Sashikichi cũng không cứu được gã? Như thế, gã chỉ là một viên đá thử của Ryuji.

    - Thôi, cậu dẹp cái ý nghĩ vớ vẩn ấy đi. – Ryuji cười. – Cậu nên nhớ, nếu Sadako hận Nagao thật thì hắn đã chẳng còn sống đến bây giờ.

    - Đúng là cô ta hoàn toàn có cái sức mạnh ấy.

    - Vậy tại sao cô ta lại bị Nagao giết một cách dễ dàng như thế?

    - Không biết. Nhưng cậu nên nhớ, cô ta chỉ toàn trông thấy sự chết chóc và thất bại của những người thân thiết xung quanh mình. Việc cô ta lặn mất tăm khỏi đoàn kịch cũng là một thất bại. Hơn nữa, cô ta lại biết được cái chết của người bố đang đến gần khi tới thăm cô ta ở trại điều dưỡng lao.

    - Ý cậu là những người yếm thế thì không căm thù kẻ giết mình?

    - Không, nói đúng ra là chính Sadako đã điều khiển ý nghĩ của bố già Nagao. Tức là cô ta đã tự sát bằng cách mượn tay Nagao.

    Có vô số những động cơ khiến cô ta muốn tự sát: người mẹ đã nhảy xuống miệng núi lửa Mihara, người cha đang sắp chết vì bệnh lao, giấc mơ trở thành diễn viên tan vỡ, dị tật cơ thể bẩm sinh… Trên thực tế, cô ta không nghĩ đến việc tự sát mới là lạ. Shigemori, người sáng lập ra đoàn kịch Hisho đuợc Yoshino đề cập đến trong bản fax, đã chết vì trụy tim ngay ngày hôm sau, sau khi đột nhập vào căn hộ của Sadako nhân cơn say. Việc Sadako giết Shigemori bằng một năng lực đặc biệt là gần như không thể chối cãi. Sadako có một khả năng như thế. Cô ta có thể trừ khử một hoặc hai người đàn ông một cách dễ dàng mà không để lại bất cứ dấu vết nào. Thế thì tại sao Nagao lại vẫn sống? Mâu thuẫn ấy sẽ không được giải quyết nếu không giả định rằng cô ta tự sát bằng cách điều khiển ý nghĩ của Nagao.

    - Được rồi, cứ cho là Sadako tự sát đi, nhưng tại sao cô ta lại để mình bị cưỡng dâm trước khi chết? Cậu đừng có nói với tớ cái điều ngu ngốc kiểu như cô ta không muốn phải ân hận vì chết mà chưa được phá trinh đấy.

    Asakawa dằn mặt trước. Nó khiến Ryuji rơi vào thế bí. Bởi vì đúng là y định nói như thế thật.

    - Chẳng lẽ như thế là ngu ngốc?

    - Cậu bảo sao?

    - Không muốn chết trong khi vẫn còn trinh chẳng lẽ lại là điều ngu ngốc đến thế? – Ryuji vặn lại với một bộ mặt nghiêm túc đáng kinh ngạc. – Nếu là tớ thì tớ thấy tiếc. Vì tớ không muốn chết trong tình trạng đồng trinh.

    Chẳng có vẻ gì là Ryuji, Asakawa thấy thế. Gã không thể giải thích được một cách đầy lý lẽ, nhưng cả lời nói và nét mặt đều không giống với Ryuji chút nào.

    - Cậu nói nghiêm chỉnh đấy chứ? Nhưng đàn ông và đàn bà khác nhau đấy. Đặc biệt là trong trường hợp của Sadako.

    - Hề hề, tớ đùa thôi. Tóm lại là Sadako không muốn bị hãm hiếp. Rõ là như thế rồi. Vì có ai tự muốn mình bị làm nhục bao giờ đâu? Thực tế là cô ta đã cắn một nhát vào vai Nagao đến lòi cả xương ra còn gì. Có lẽ ý muốn được chết mới chỉ bất chợt nảy ra với cô ta ngay sau khi bị giở trò, và trong lúc không nghĩ ngợi gì, cô ta đã sai khiến Nagao Jataro làm việc đó…

    - Nhưng như vậy thì ắt hẳn cô ta phải căm thù Nagao chứ? Cậu giải thích sao đây?

    Asakawa vẫn chưa bằng lòng với lập luận của Ryuji.

    - Cậu quên rồi à? Nên hiểu rằng sự căm thù của Yamamura hướng vào cả đám đông dư luận chứ không phải vào bất kỳ một cá nhân cụ thể nào. So với sự giận dữ ấy, lòng căm ghét Nagao chả đáng gì.

    Nếu cô ta căm thù số đông, thì câu thần chú sẽ là gì?… Giết người hàng loạt.

    Giọng nói trầm đục của Ryuji cắt ngang dòng suy nghĩ của Asakawa.

    - Dẹp thôi. Thà mau mau đi tìm Sadako còn hơn là ngồi đấy mà nghĩ ngợi lung tung. Chỉ có Sadako mới trả lời được mọi bí ẩn.

    Uống cạn lon trà Ô Long, Ryuji đứng dậy, ném chiếc lon rỗng xuống triền dốc.

    Đứng trên sườn dốc thoai thoải, hai người nhìn lướt qua những lùm cỏ dưới chân. Ryuji ấn liềm vào tay Asakawa rồi hất cằm về phía vạt đồi bên trái ngôi biệt thự B-4. Có vẻ như Ryuji muốn gã dọn cỏ để kiểm tra địa hình. Asakawa đứng chùng chân, vung liềm theo một đường vòng cung song song với mặt đất và cắt cỏ.

    Theo lời kể thì gần ba mươi năm về trước đã từng có một ngôi nhà cũ và một cái giếng trước sân ở chỗ này. Asakawa vươn thẳng lưng. Nếu là gã, gã sẽ cất nhà ở đâu? Nghĩ thế, Asakawa đưa mắt nhìn quanh một lần nữa. Chắc chắn gã sẽ chọn một nơi có tầm nhìn đẹp. Đấy là lý do duy nhất để dựng nhà ở đây. Vậy thì chỗ nào là đẹp nhất? Asakawa vừa căng mắt nhìn xuống những khu nhà kính trồng rau ở tít dưới chân núi vừa thay đổi vị trí để xem xét sự biến đổi của cảnh sắc. Nhưng nhìn từ góc độ nào thì quang cảnh cũng chẳng khác nhau là mấy. Tuy nhiên, để làm nhà thì miếng đất của ngôi biệt thự A-4 nằm kế bên B-4 là thích hợp nhất. Rất dễ nhận thấy rằng chỉ có địa điểm ấy là bằng phẳng khi nhìn từ bên cạnh. Asakawa bỏ ra khoảng giữa A-4 và B-4 rồi cắt cỏ và dùng bàn tay để kiểm tra mặt đất.

  14. MinhThy R.L.G

    Asakawa không có ký ức nào về việc kín nước từ giếng. Thậm chí, gã còn nhớ rằng gã chưa bao giờ được chạm vào giếng. Không biết cái giếng ở vùng núi này có hình dạng ra sao? Nước có phun ra từ trong mạch không? Gã chợt nhớ tới cái đầm lầy nằm lọt giữa những gốc cây cao cách đó vài trăm mét theo hướng đông về phía khe núi. Gã không thể tập trung tư tưởng một cách tốt nhất. Gã không biết phải nghĩ gì trong khi tiến hành công việc vào những lúc như thế này. Gã cảm thấy máu bốc lên đầu. Gã nhìn đồng hồ, gần ba giờ. Còn bảy tiếng nữa là kết thúc. Mình cứ làm những việc như thế này liệu có kịp không? Nghĩ thế càng khiến tư duy của gã rối loạn hơn. Gã không thể nắm bắt được hình ảnh của cái giếng. Có cái gì ở cái giếng cũ? Chắc chắn là có những tảng đá được xây theo một đường hình tròn. Nhưng nhỡ nó bị phá huỷ và bị lấp dưới những lớp đất rồi thì sao? Ôi không, nếu như vậy thì không kịp. Bọn gã làm sao mà đào lên được. Thế rồi gã lại nhìn đồng hồ. Đúng ba giờ. Cổ họng gã đã lại khô khốc mặc dù trước đó gã đã uống hế
    t gần nửa lít trà Ô Long trên ban công. Hãy đi tìm mô đất, hãy đi tìm những tảng đá, có giọng nói vang lên trong tâm trí gã. Asakawa chọc xẻng vào một đụn đất nhô lên. Sự dồn nén liên tục của thời gian, máu làm thần kinh gã rệu rã, nhưng ngược lại, chính vì thế mà gã không cảm thấy nhọc. So với lúc ngồi ăn cơm hộp trên ban công, thời gian đang trôi đi theo một cách hoàn toàn khác. Tại sao gã lại cuống cả lên khi vừa mới bắt tay vào việc? Liệu gã có nên làm cái công việc này? Trong khi còn có bao nhiêu thứ khác phải làm.

    Ngày xưa, đã có lần gã từng đào một cái hang vào vách đất. Có lẽ vào năm lớp bốn hay lớp năm gì đó. Ha ha ha, Asakawa bật cười yếu ớt vì gã chợt nhớ ra kỷ niệm đó.

    - Này, cậu đang làm cái khỉ gì vậy?

    Asakawa ngẩng mặt lên vì giật mình trước giọng nói của Ryuji.

    - Cậu làm gì từ nãy đến giờ thế hả? Lại còn chui rúc vào tận chỗ này… Sao không tìm rộng ra nữa?

    Asakawa há hốc mồm ngẩng lên nhìn Ryuji. Ánh nắng chiếu lại từ sau lưng khiến khuôn mặt Ryuji tối sầm. Thế rồi những giọt mồ hôi rịn ra từ khuôn mặt đen ấy rỏ tong tỏng xuống chân. Gã đang làm gì ở đây ư? Có một cái hố nhỏ trên mặt đất ngay trước mắt gã, do chính gã đào.

    - Cậu định đào bẫy sập chắc?

    Ryuji vừa thở mạnh vừa nói. Asakawa nhíu mày định nhìn đồng hồ.

    - Không phải nhìn đồng hồ liên tục như thế, đồ ngốc!

    Ryuji gạt tay Asakawa đi. Sau khi lườm gã một hồi, Ryuji thở dài, ngồi xổm xuống rồi ôn tồn thì thầm với gã.

    - Cậu nghỉ ngơi một lát đi.

    - Làm cóc gì có thời gian.

    - Tớ bảo cậu phải bình tĩnh hiểu chưa? Cuống quít lên chỉ có mà công cốc.

    Ryuji đẩy nhẹ vào ngực Asakawa đang ngồi xổm khiến gã mất thăng bằng bật ngửa ra sau và chổng hai chân lên trời.

    Asakawa tìm cách ngồi dậy.

    - Cấm cử động! Nằm im! Đừng có tốn sức vào những việc vô ích.

    Ryuji giữ chặt chân trên ngực Asakawa cho tới lúc gã thôi giãy giụa. Asakawa nhắm mắt và từ bỏ ý định chống cự. Sức nặng của bàn chân Ryuji rời xa khỏi cơ thể gã. Gã khẽ mở mắt, gã nhìn thấy Ryuji đang guồng mạnh đôi chân ngắn ngủn để vòng về phía bóng râm dưới ban công ngôi biệt thự B-4. Bước chân Ryuji như nói với gã điều gì đó. Bỗng nhiên, linh cảm về việc sẽ tìm thấy cái giếng ở một nơi không xa khiến cơn sốt ruột của gã nguôi ngoai.

    Asakawa chẳng buồn động đậy ngay cả khi Ryuji đã đi rồi. Gã dang rộng chân tay nhìn trời. Mặt trời chói chang. Gã thấy ngán ngẩm vì tinh thần của mình quá ư mềm yếu so với Ryuji. Gã không còn đủ tự tin để giữ nổi mình khi mỗi giây phút của bảy giờ còn lại trôi qua. Lúc này, gã nên tuân theo mọi mệnh lệnh của Ryuji. Quên cái tôi đi và đặt mình dưới sự chỉ huy của một người có tinh thần dẻo dai là tốt nhất. Tự đánh mất mình chính là cách để ta thoát khỏi nỗi sợ. Hãy chôn mình xuống đất và hòa làm một với thiên nhiên! Ý nguyện của Asakawa dường như đã chạm được tới Đấng Tối cao. Một cơn buồn ngủ dữ dội kéo đến khiến gã mất dần ý thức. Thế rồi, trong khoảnh khắc chìm vào giấc ngủ, gã mơ thấy mình đang cho Yoko đi tàu bay giấy, và cùng lúc, gã nhớ lại cái kỷ niệm hồi tiểu học và gã đã một lần nhớ tới ban nãy.

    Ở cuối thị trấn nơi Asakawa lớn lên có một cái sân vận động thuộc quyền quản lý của tư nhân, bên dưới vách đất cạnh đó là một đầm lầy có rất nhiều tôm càng. Hồi còn học tiểu học, Asakawa thường hay cùng chúng bạn ra đầm lầy ấy bắt tôm. Ngày hôm đó, vách đất màu đỏ nhô lên sừng sững cạnh đầm lầy dưới nắng xuân như khiêu khích. Chán cái việc cứ phải ngồi buông cần câu xuống mặc nước, Asakawa bỗng nhiên muốn đào một cái hang vào trong vách đất gần như dốc đứng đang bị mặt trời chiếu tới. Đất sét rất mềm, chỉ cần dùng mảnh ván xắn vào là đất rơi xuống chân lả tả. Thấy thế, lũ bạn cũng kéo tới nhập hội. Ba đứa hay là bốn đứa gì đó. Như thế là vừa đủ để đào một cái hang. Nếu nhiều hơn ngần ấy thì vướng víu vì đầu đứa này sẽ đập phải đầu đứa kia, còn nếu ít hơn thì công việc của mỗi đứa sẽ thêm phần nặng nhọc.

    Sau một giờ đồng hồ, cả bọn đào được một cái hang vừa đủ một đứa chui lọt. Chúng tiếp tục đào. Có một đứa trong bọn đòi về vì chúng đang trên đường về nhà. Chỉ có Asakawa đầu têu ra trò đó là im lặng đào tiếp. Thế rồi khi mặt trời sắp lặn, cái hang đã lớn tới mức tất cả lũ trẻ ở đó đều có thể khom người chui vừa. Asakawa ôm gối khúc khích cười cùng chúng bạn. Việc cuộn mình ngồi trong hang đất sét cho chúng cái cảm giác như được trở thành người nguyên thuỷ Mikkabi mà chúng vừa học trong tiết lịch sử.

    Thế rồi một khuôn mặt lấp mất cửa hang. Asakawa không thể nhìn rõ nét mặt vì ánh nắng chiều sắp tắt đang chiếu lại từ phía sau lưng làm cho nó đen thủi, tuy thế thì Asakawa vẫn nhận ra bà hàng xóm năm nay đã xấp xỉ năm mươi tuổi sống ở cạnh nhà.

    - Sao lại đào hố ở đây? Các cháu mà bị chôn sống là bác sợ lắm đấy.

    Bà hàng xóm vừa ngó vào trong vừa nói vậy. Asakawa và hai đứa kia đưa mắt nhìn nhau. Tuy mới học tiểu học, song bọn chúng cũng nhận ra sự kỳ lạ trong cách nhắc nhở của bà ta. Thay vì nói: “Các cháu thôi đi, nguy hiểm lắm” thì bà ta lại bảo: “Các cháu mà bị chôn sống ở đây thì những người sống gần nhà như bác sẽ rất sợ, nên phải thôi đi”. Bà ta chỉ nghĩ đến mình. Hề hề hề, Asakawa quay sang lũ bạn cười. Khuôn mặt đen sẫm của bà hàng xóm chẹn ở cửa hang như một nhân vật trong kịch bóng.

    Khuôn mặt Ryuji đột nhiên chèn lên khuôn mặt bà hàng xóm.

    - Ái chà, vẫn nằm ễnh ra từ nãy đến giờ cơ à? Thần kinh có vẻ cứng cáp hơn rồi đấy. Đồ con khỉ, nhăn nhăn nhở nhở cái gì thế?

    Gã bị Ryuji đánh thức. Mặt trời đang ngả dần xuống đường chân trời đằng tây, theo sát sau đó là bóng chiều chạng vạng. Thân mình và khuôn mặt Ryuji chắn ngang ánh sáng yếu ớt từ phía tây khiến chúng còn đen hơn trước.

    - Cậu lại đây một chút.
    Sau khi lôi cổ Asakawa dậy, Ryuji im lặng luồn xuống dưới ban công ngôi biệt thự B-4. Asakawa cũng đi theo. Phía dưới ban công, ở giữa những cây cột đỡ của ngôi biệt thự B-4 là vách ngăn bằng gỗ. Trên đó, có một tấm đã bị bật ra. Ryuji thò tay vào giữa khe hở và dùng hết sức giật mạnh. Tấm ván kêu đánh rắc rồi bị tước thành một đường chéo. Nội thất trong phòng hiện đại là thế, vậy mà vách tường gỗ che một phần gầm nhà dưới hiên lại cẩu thả tới mức có thể dùng tay phá vỡ một cách dễ dàng. Thì ra những chỗ không ai để mắt tới là toàn đồ rẻ tiền. Ryuji đưa đèn rọi vào bên trong, rồi hất hàm ý bảo Asakawa: “Nhìn đi!”. Asakawa ghé mắt dòm vào trong qua khe hở. Chỗ đèn rọi tới có một cái ụ nhô lên nằm chếch về phía Tây so với tâm nhà. Nhìn kỹ, gã thấy phía ngoài là một mặt cong vẫn còn nguyên những hình tảng đá như lúc vừa xây xong. Có một nắp đậy bằng bê tông ở bên trên, cỏ mọc tua tủa vô tội vạ từ các khe đá và mạch vữa xi măng. Ngay lập tức, Asakawa hiểu ra rằng có cái gì ở phía trên. Phòng khách của ngôi biệt t
    hự. Còn máy thu hình và bộ đầu video thì được đặt ngay phía trên cái miệng giếng hình tròn. Thì ra một tuần trước, Yamamura Sadako đã giấu mình ở đây và theo dõi gã từ một khoảng cách gần như thế này.

    Ryuji lần lượt dỡ từng tấm ván cho tới lúc lỗ hổng trên vách tường lớn bằng một thân người. Hai người chui qua rồi bò về phía miệng giếng. Ngôi biệt thự được xây trên sườn dốc vì thế càng bò lên sàn nhà càng thấp và ngột ngạt. Gầm nhà tuy tối nhưng dù sao cũng vẫn đủ dưỡng khí, vậy mà Asakawa lại thấy khó thở. Đất ở đây lạnh hơn bên ngoài. Asakawa biết rất rõ cái công việc sẽ phải làm. Mặc dù biết rõ song gã vẫn chưa thấy sợ. Nhưng, trên đầu gã mới chỉ là sàn nhà mà gã đã thấy khó thở. Vậy nhỡ gã phải chui xuống đáy giếng, một nơi còn tăm tối hơn nhiều, thì sao? Làm gì có chuyện nhỡ… Để kéo xác Yamamura Sadako lên, gần như chắc chắn gã phải chui xuống giếng.

    - Ê, giúp tớ một tay. – Ryuji cất tiếng.

    Ryuji nắm lấy đầu cốt sắt lòi ra từ miếng vỡ của chiếc nắp đậy và cố lôi nó về phía chân dốc, nhưng lực kéo không đủ mạnh vì sàn nhà quá thấp. Cho dù có thể nâng được tạ đòn nặng 140kg nhưng điểm tựa không vững đã cướp đi của Ryuji nửa phần sức lực. Asakawa vòng lên phía trên rồi nằm ngửa người ra đất. Sau đó, gã tỳ hai tay vào cột, giữ chắc thân mình và đạp mạnh cái nắp bằng hai chân. Tiếng bê tông và đá nghiến vào nhau ken két. Asakawa và Ryuji hò nhau bắt nhịp. Cái nắp dịch chuyển. Bao nhiêu năm rồi miệng giếng mới mở ra? Nó bị đóng lại từ khi nào? Từ khi Villa Log Cabin được xây dựng? Từ khi Pacific Land Nam Hakone ra đời? Hay từ hồi vẫn còn trại điều dưỡng lao? Gã chỉ có thể đoán được khoảng thời gian mà miệng giếng bị bịt lại qua cái vết tiếp giáp rất kín giữa tấm bê tông và những viên đá, và qua cái âm thanh ken két như tiếng khóc than khi chúng tách khỏi nhau. Không thể là nửa năm hay hai năm. Dài nhất cũng phải đến hai mươi lăm năm. Nhưng nói gì thì nói, miệng giếng cuối cùng cũng hé mở. Ryuji thọc x
    ẻng vào và bẩy thử.

    - Khi nào tớ ra hiệu thì cậu đè cả người lên cán xẻng nghe không!

    Asakawa đổi tư thế.

    - Được chưa? Một, hai… ba!

    Asakawa vít cán xẻng xuống theo nguyên lý đòn bẩy, đồng thời Ryuji cũng ấn mạnh hai tay lên cạnh nắp. Cái nắp kêu lên bi thống rồi rơi ầm xuống đất.

    Thành giếng hơi ẩm. Asakawa và Ryuji mỗi người cầm một chiếc đèn rọi, bám tay vào thành giếng ẩm ướt và nhổm dậy. Trước khi lia đèn xuống dưới, hai người phải đưa đầu và vai vào giữa khoảng trống chỉ cao chừng năm mươi xăng-ti-mét giữa sàn nhà với giếng. Khí lạnh bốc lên đem theo một thứ mùi khăn khẳn. Mật độ của cái không gian ấy đậm đặc tới mức như chỉ cần thả tay ra một chút là sẽ bị nó hút vào. Chắc chắn là cô ta đang ở đây. Kẻ có khả năng đặc biệt hiếm thấy, người con gái bị hội chứng tinh hoàn nữ hóa… Mà không, cách gọi “người con gái” không hề phù hợp. Về phương diện sinh vật học, đàn ông và đàn bà được phân biệt với nhau bởi cấu tạo của tuyến sinh dục. Cho dù cô ta có mang trên mình cơ thể của một mỹ nữ thì cô ta vẫn là đàn ông nếu cô ta có cấu tạo tuyến sinh dục là tinh hoàn. Asakawa thực sự không biết nên gọi Yamamura Sadako là đàn ông hay đàn bà. Khi nghĩ ra cái tên Sadako, hẳn là cha mẹ cô ta đã hy vọng cô ta sẽ lớn lên thành một cô gái. Sáng hôm nay, trên tàu đi Atami, Ryuji có nói: kẻ mang trê
    n mình cả bộ phận sinh dục nam và bộ phận sinh dục nữ mới là hiện thân của sức mạnh và vẻ đẹp tuyệt đối… Có một lần, Asakawa đã không thể chớp mắt khi xem một bức hình điêu khắc trong cuốn Mỹ thuật La Mã Cổ đại Toàn tập. Vì gã nhìn thấy khúc DV hoàn hảo đang thò ra từ giữa khe háng của một người con gái tuyệt đẹp nằm lõa thể trên đá…

    - Có thấy gì không? – Ryuji hỏi.

    Chiếu đèn xuống, gã nhận thấy dưới đáy có nước. Từ đây tới mặt nước sâu khoảng bốn đến năm mét. Nhưng còn dưới nữa thì không biết được.

    - Bên dưới có nước.

    Ryuji lồm cồm bò về phía cây cột rồi buộc chặt đầu sợi dây thừng vào đó.

    - Nào, thả đèn xuống dưới. Không được làm rơi đâu đấy.

    … Hoá ra Ryuji định trèo xuống cái hố này. Mới nghĩ vậy Asakawa đã bủn rủn cả hai chân. Nếu xuống dưới đó… Cái hố vừa hẹp vừa dựng đứng đập vào mắt Asakawa khiến trí tưởng tượng của gã thức dậy. Ta không thể làm được. Ngâm mình trong làn nước tối om ấy để rồi làm gì? Chắc chắn là để vớt cái xác lên… Nhưng làm sao ta có thể làm được việc này. Ta sẽ điên mất.

    Vì thế, trong lúc nhìn Ryuji leo xuống dưới, Asakawa cảm thấy vô cùng biết ơn và không quên cầu trời để đừng đến lượt gã.

    Có lẽ tại mắt đã quen với bóng tối, Asakawa bắt đầu nhìn thấy rõ hơn mặt trong của thành giếng phủ đầy rêu. Vách tường đá nổi lên thành bao nhiêu là mắt, mũi, miệng dưới ánh đèn vàng vọt. Nếu không đưa mắt nhìn đi chỗ khác, những hình thù trên đá sẽ gào lên thảm thiết rồi biến thành khuôn mặt người chết méo mó. Vô số những cô hồn đang với tay lên miệng giếng và dập dờn như rong biển. Những hình ảnh ấy không thể nào tan đi một khi đã nhìn thấy chúng. Những hòn sỏi nhỏ rơi lộp độp xuống khoảng không hình ống chỉ rộng chừng một mét đầy yêu khí và bị những cái họng của lũ cô hồn nuốt gọn.

    Ryuji trườn người vào khoảng trống giữa giếng với sàn nhà, dùng hai tay quấn lấy thừng rồi từ từ tụt xuống.

    - Asakawa! Mang cho tớ cái xô. Cả một ít thừng nhỏ nữa.

    Xô vẫn để trên ban công. Asakawa bò ra khỏi gầm nhà. Ngoài trời đã tối. Nhưng gã cảm thấy sáng hơn trong đó nhiều. Và trên hết, cái cảm giác được giải thoát cùng với bầu không khí trong lành tràn trề dưỡng khí mới thật tuyệt vời. Nhìn quanh khu biệt thự, gã chỉ thấy chút ánh sáng lọt ra từ ngôi biệt thự A-1 nằm ven đường. Asakawa cố gắng không xem đồng hồ. Tiếng quây quần vẳng ra từ đó khiến cho mình nó nổi bật lên ở đằng xa, giống như một thế giới hoàn toàn khác. Không cần nhìn đồng hồ, gã cũng đoán được thời gian qua âm thanh loáng thoáng của bữa cơm chiều.

    Asakawa trở lại giếng, buộc xô và xẻng vào đầu dây thừng rồi thả xuống dưới. Ryuji dùng xẻng xúc đất vào xô. Chốc chốc, y lại ngồi xuống mò tay vào trong bùn nhưng không tìm thấy gì.

    - Kéo xô lên! – Ryuji quát.

  15. MinhThy R.L.G

    Asakawa tỳ bụng vào thành giếng kéo chiếc xô lên. Sau khi đã đổ hết bùn, đá ở bên trong gã lại giòng xô xuống. Có vẻ như rất nhiều đất đá chảy vào giếng trước khi nó được bịt lại nên Ryuji đào mãi mà chẳng thấy cẳng chân hay cánh tay đẹp đẽ nào của Sadako hiện ra cả.

    - Asakawa!

    Ryuji ngừng tay, ngẩng đầu lên. Asakawa không đáp.

    - Asakawa! Cậu sao thế?

    … Chả sao cả, vẫn ở đây.

    Asakawa định trả lời như vậy.

    - Nãy giờ chưa thấy cậu mở miệng được câu nào. Hay là dô hầy một tý cho đỡ buồn.

    - …

    - Hay là hát một chút đi, nếu không thích dô hầy. Làm một bài cò lả chẳng hạn.

    - …

    - Ê, Asakawa! Cậu vẫn ở đấy chứ? Chưa bị ngất chứ hả?

    - … Không sao. – Cuối cùng gã cũng thốt lên được với cái giọng khàn khàn.

    - Phì, đồ vô tích sự.

    Ryuji nói như nhổ nước bọt rồi cắm lưỡi xẻng xuống nước.

    Y đã làm như thế không biết bao nhiêu lần. Mặc dù mực nước đang hạ dần nhưng chẳng có cái gì giống như thứ ấy hiện ra. Còn chiếc xô thì được kéo lên với tốc độ chậm đi trông thấy. Cuối cùng thì nó chẳng nhích thêm được một phân nào nữa. Thế rồi Asakawa tuột tay và đánh rơi chiếc xô từ lưng chừng giếng. Mặc dù tránh được cú rơi trực diện, song Ryuji vẫn bị bùn và nước giội từ đầu đến chân. Vừa bực mình y vừa nhận ra rằng tay Asakawa đã đuối sức.

    - Đồ hậu đậu! Cậu định giết tớ đấy hả! – Ryuji leo lên bằng dây thừng. – Đổi phiên.

    … Đổi phiên!

    Asakawa giật nảy mình khiến đầu gã đập mạnh vào gầm nhà.

    - Khoan đã, Ryuji. Không sao đâu, tớ vẫn còn sức.

    Asakawa nói đứt quãng. Ryuji thò cổ lên khỏi giếng.
    - Còn ở chỗ nào mà còn. Thôi, thay phiên.

    - Kho… khoan đã. Nghỉ một tý là lại sức ngay mà.

    - Đợi đến lúc cậu hồi sức thì sáng bảnh mắt ra rồi.

    Ryuji chĩa đèn vào mặt Asakawa. Ánh mắt Asakawa hơi đổi khác. Nỗi sợ hãi trước cái chết đã cướp đi sự sáng suốt của gã. Chỉ cần nhìn thoáng qua cũng có thể nhận thấy gã đã mất khả năng suy xét bình thường. Thực ra chẳng cần phải nghĩ ngợi nhiều cũng biết được rằng, giữa việc xúc bùn bằng xẻng và việc kéo xô nặng lên độ cao bốn đến năm mét, đằng nào tốn sức hơn.

    - Thôi nào, xuống nhanh lên! – Ryuji ấn người Asakawa về phía thành giếng.

    - Chờ chút đã. Không được đâu, Ryuji à.

    - Cậu bảo sao?
    - Mình bị chứng sợ không gian hẹp.

    - Cậu nói nhảm gì thế.

    Asakawa co rúm người lại không hề nhúc nhích. Mặt nước dưới đáy giếng xao động.

    - Không được, mình chịu thôi.

    Ryuji tóm ngực áo Asakawa lôi lại rồi tát một cái, hai cái vào mặt gã.

    - Thế nào, tỉnh chưa? Mình chịu thôi à? Còn nói nhảm nữa không? Một kẻ biết cách có thể cứu mình thoát khỏi cái chết mà không hành động thì là ngợm chứ không phải người. Cậu nên nhớ rằng không chỉ có mỗi cái mạng của cậu. Cậu quên cuộc điện thoại lúc nãy rồi sao? Cậu đành lòng nhìn cún con đáng yêu nhà cậu bị cướp đi vĩnh viễn hay sao?

    Nghĩ đến vợ con, gã không thể rúm mình hèn nhát. Đúng là sinh mệnh của hai người đều nằm cả trong tay gã. Nhưng cơ thể không chịu nghe lời gã.

    - Này Ryuji, việc này, có thật là có ý nghĩa không?
    Mặc dù biết rằng câu hỏi như thế vào lúc này thật vô nghĩa song Asakawa vẫn yếu ớt hỏi. Ryuji nới lỏng bàn tay đang tóm ngực áo Asakawa ra.

    - Tớ sẽ nói cho cậu rõ thêm một chút về lý thuyết của tiến sỹ Miura. Để oán niệm tồn tại trên thế giới này cần có ba điều kiện: không gian đóng kín, nước và thời gian để đạt đến cái chết. Nghĩa là, nếu một người chết từ trong một không gian khép kín và có nước thì, hầu hết các trường hợp, oán niệm của người đó sẽ ám vào chỗ ấy. Cậu thử nhìn cái giếng này xem. Một không gian hẹp và kín, có cả nước nữa. Nhớ lại lời bà lão trong cuộn băng rồi cậu sẽ thấy.

    … Kể từ dạo đó, sức khoẻ cháu thế nào? Cháu mà cứ nghịch nước là quỷ ác sẽ tới đấy.

    Nghịch nước, nghịch nước. Phải rồi, cho đến bây giờ Yamamura Sadako vẫn ẩn mình dưới lớp bùn tối đen kia và tiếp tục chơi trò nghịch nước. Cái trò đùa với mạch nước ngầm chảy hoài không bao giờ dứt.

    - Lúc bị thả xuống giếng Yamamura Sadako vẫn còn sống. Và rồi trong lúc chờ cái chết đến, cô ta đã gieo rắc oán niệm của mình khắp mặt trong thành giếng. Như vậy, ở trường hợp của cô ta, cả ba điều kiện đều hội đủ.

    - … Thế thì sao?

    - Thế thì… Theo lời tiến sỹ Miura, cách giải lời nguyền rất đơn giản. Tóm lại là chúng ta chỉ cần giải phóng oán niệm ấy. Chúng ta chỉ cần đưa hài cốt lên khỏi đáy giếng chật hẹp và mang về an táng tại quê nhà sau khi đã phụng niệm cẩn thận. Chúng ta sẽ kéo cô ta về với thế giới rộng rãi và sáng sủa.

    Vừa nãy, lúc bò ra khỏi gầm nhà để đi lấy xô, Asakawa đã tưởng như mình vừa được giải thoát, một cảm giác không thể diễn tả thành lời. Chỉ cần làm cái điều tương tự với Yamamura Sadako là xong? Phải chăng cô ta đang mong đợi điều ấy?
    - Cậu định nói đó chính là câu thần chú?

    - Có thể là thế mà cũng có thể là không.

    - Như thế thì chả biết đâu mà lần.

    Ryuji lại kéo mạnh ngực áo Asakawa.

    - Cậu nghe cho kỹ đây. Chẳng có quái gì đảm bảo cho tương lai của chúng ta hết. Phía trước chúng ta chỉ toàn là những thứ chả biết đâu mà lần thôi, cậu hiểu không. Nhưng dầu vậy thì cậu vẫn phải sống. Cậu không thể dừng mọi hoạt động sống chỉ vì cái lý do chả biết đâu mà lần của cậu. Vấn đề là cơ may. Câu thần chú, hay ý muốn của Sadako rất có thể là cái gì đó khác. Nhưng bằng cách đưa xác cô ta ra khỏi đây, cơ may xóa bỏ lời nguyền trong cuộn băng là rất lớn.

    Mặt Asakawa méo xệch. Gã kêu thầm trong bụng.

    … Không gian khép kín ấy à? Nước ấy à? Thời gian để đạt đến cái chết ấy à? Oán niệm sẽ khó tan nhất khi hội đủ cả ba điều kiện ấy à? Có cái quái gì làm chứng cho trò ba hoa của lão học giả bịp bợm Miura kia chứ?

    - Sao, hiểu rồi thì xuống đi.

    … Đếch hiểu. Tao không hiểu gì hết!

    - Sắp chết đến nơi rồi mà còn chần chừ nữa à? – Ryuji dần dịu giọng. – Cậu đừng nghĩ rằng ta có thể sống sót mà không cần chiến đấu.

    … Đồ khốn! Tao cần quái gì nghe triết lý sống của mày.
    Nhưng Asakawa vẫn trèo lên thành giếng.

    - Tốt. Cuối cùng thì cậu cũng nhận ra điều cần làm rồi hả?

    Asakawa giữ chặt dây thừng rồi thả mình vào trong lòng giếng. Khuôn mặt Ryuji ở ngay trước mắt.
    - Không sao, chẳng có gì trong đó cả đâu. Kẻ thù lớn nhất của cậu chính là cái trí tưởng tượng bạc nhược kia kìa.

    Ngước nhìn lên, gã chói mắt vì bị ánh đèn chiếu thẳng vào mặt. Gã áp chặt lưng vào thành giếng rồi từ từ nới lỏng bàn tay đang nắm chặt sợi dây thừng. Mũi chân gã trượt trên mặt đá. Gã tuột một mạch xuống chừng một mét. Ma sát làm tay gã nóng ran.

    Asakawa chỉ đu người lơ lửng ngay phía trên mặt nước chứ chưa dám tụt hẳn xuống. Gã duỗi một chân ra và nhúng đến mắt cá như kiểu thử độ nóng của nước tắm. Đồng thời với cảm giác lạnh buốt, lông tơ khắp người gã dựng ngược. Gã vội rụt chân lại. Nhưng tay gã không còn đủ sức để đu trên sợi dây thừng. Gã từ từ trượt xuống do sức nặng của cơ thể, thế rồi không chịu được nữa, gã chống hai chân xuống nước. Đà rơi khiến chân gã ngập trong lớp đất mềm dưới đáy nước. Asakawa bíu chặt lấy sợi dây thừng trước mặt. Gã bắt đầu hoảng loạn khi tưởng tượng ra vô số những cánh tay đang vươn ra từ lòng đất hòng lôi gã xuống bùn. Bức tường ngột ngạt chặn bốn phía: trước mặt, sau lưng, hai bên cạnh. Nó nhếch miệng cười như muốn nói: ngươi tiệt đường rồi!

    … Ryu…ji!

    Gã định kêu lên nhưng không thành tiếng. Gã thấy khó thở vô cùng. Chỉ có thứ âm thanh nghèn nghẹt lọt ra từ cuống họng. Gã ngửa đầu lên như một đứa trẻ sắp chết đuối. Gã thấy một cảm giác ươn ướt, nong nóng ở đũng quần.

    - Thở đi, Asakawa!

    Asakawa đã nín thở một cách vô thức vì cảm giác quá ngột ngạt.

    - Có tớ ở đây, yên tâm đi!

    Cuối cùng thì Asakawa cũng hít được một hơi sau khi giọng nói của Ryuji kèm theo những tiếng vọng chạm tới đầu gã.

    Nhịp tim của gã vẫn chưa điều hòa trở lại. Gã chưa ở vào trạng thái có thể tiến hành được công việc. Gã dùng hết sức để nghĩ tới một thứ gì đó khác. Một thứ gì đó vui vẻ hơn. Nếu cái giếng này ở dưới một bầu trời đầy sao thì hẳn là gã đã không cảm thấy khó thở đến thế này. Nhưng khốn nạn thay nó lại nằm lọt dưới gầm ngôi biệt thự B-4. Tình trạng ấy đã chặn đứng mọi lối thoát. Mặc dù tấm nắp đậy đã được bỏ đi nhưng ngay trên nó lại là cái sàn nhà giăng đầy mạng nhện. Yamamura Sadako đã sống ở chỗ này trong suốt hai mươi lăm năm… Phải rồi, cô ta đang ở đây, ngay dưới chân gã. Nơi này là nấm mồ của một người chết. Một nấm mồ. Gã không thể nghĩ được cái gì khác. Ngay cả ý nghĩ cũng bị nhốt kín nói gì đến chuyện vùng vẫy để thoát ra. Cuộc đời Yamamura Sadako đã khép lại đầy bất hạnh tại đây, bằng năng lượng ý nghĩ, những hình ảnh lóe lên vào phút lâm chung đã đọng lại dai dẳng ở nơi này. Những dư ảnh ấy qua thời gian cứ lớn dần lên, trưởng thành, hít thở, như sự dâng lên hạ xuống của thuỷ triều, lặp đi lặp lại q
    uãng chu kỳ mạnh yếu và khi tình cờ dao động với tần số bằng đúng tần số của chiếc ti vi đặt ở bên trên chúng đã bất ngờ xuất hiện trên thế giới này. Sadako đang thở. Tiếng hổn hển không rõ từ đâu bao bọc lấy cơ thể gã. Yamamura Sadako, Yamamura Sadako… Cái tên ấy liên tiếp dội vào óc gã, rồi khuôn mặt đẹp đến đáng sợ của cô ta bước ra từ tấm ảnh, lúc lắc cái cổ một cách gợi tình. Yamamura Sadako đang ở đây. Asakawa hăng hái mò tay xuống bùn tìm cô ta. Gã nghĩ tới khuôn mặt cùng thân hình tuyệt mỹ của Sadako và cố gắng để nó đừng tan mất. Bộ hài cốt của một người con gái đẹp vấy đầy nước tiểu của ta… Asakawa đưa mũi xẻng xúc bùn. Gã không còn bận tâm đến thời gian. Gã đã tháo đồng hồ trước khi xuống dưới này. Sự kiệt sức và căng thẳng cực độ đã làm tê liệt cảm giác nôn nóng và làm gã quên đi thời gian. Nó giống như khi say rượu. Người ta không cảm nhận được thời gian nữa. Gã chỉ có thể đếm được thời gian bằng số lần chiếc xô đầy bùn lên xuống hay số nhịp tim khi cố lắng nghe…

    Rồi thì Asakawa cũng tóm được một hòn đá lớn hình tròn. Gã sờ thấy hai cái hốc trên bờ mặt trơn láng. Gã nhấc nó lên khỏi vũng nước. Gã lấy nước rửa qua đám đất bám trong những cái hõm, trước mắt gã là một chiếc đầu lâu mà chỗ tay gã đang cầm trước đây có lẽ là hai bên tai. Trong tưởng tượng, da thịt dần dần phủ lên nó. Nơi hốc mắt sâu hoắm hiện ra đôi đồng tử to và sáng, sau đó da thịt đùn lên từ hai cái lỗ nằm ở chính giữa tạo thành một sống mũi thanh tú và quý phái. Mái tóc dài ướt sẫm, nước chảy xuống tý tách từ mang tai và cổ. Sadako chớp chớp đôi mắt đượm vẻ u buồn hai hay ba lần rồi lấy tay định quệt đi giọt nước đang đọng lại trên mi. Khuôn mặt Sadako trông méo mó khổ sở vì bị kẹp giữa hai bàn tay của Asakawa. Dù thế, vẻ đẹp ấy vẫn không hề vẩn đục. Cô ta mỉm cười với Asakawa rồi bất ngờ nheo mắt như để nhìn gã rõ hơn.
    … Tôi đã mong được gặp cô biết mấy.

    Nói xong Asakawa ngã phệt xuống đất. Có tiếng Ryuji vọng tới từ rất xa trên đỉnh đầu.

    … Asakawa! Thời hạn của cậu là 10:04 phải không? Thế thì ăn mừng đi, bây giờ là 10:10 rồi.

    … Này Asakawa, có nghe thấy tớ không? Cậu vẫn sống chứ? Lời nguyền được giải rồi. Chúng ta được cứu sống rồi. Ê, Asakawa! Cậu không định làm Sadako thứ hai ở dưới đấy chứ. Có chết thì cũng đừng ám quẻ tớ nghe chưa. Mau mau siêu độ cho tớ nhờ. Asakawa! Còn sống thì trả lời đi.

    Mặc dù nghe thấy tiếng Ryuji nhưng Asakawa không còn chút ý niệm nào rằng mình vừa được cứu sống. Gã đang phủ phục và ôm hộp sọ của Yamamura Sadako vào ngực, giống như ở một thế giới khác, trong một giấc mơ.


    (còn tiếp)
  16. MinhThy R.L.G

    Chương IV

    1.

    Thứ Sáu, ngày 19 tháng Mười

    Asakawa bị đánh thức bởi cú điện thoại từ phòng quản lý. Mười một giờ sáng là thời điểm phải trả phòng. Người quản lý gọi để hỏi xem họ có định nghỉ thêm một ngày nữa hay không. Vẫn cầm ống nghe, gã với tay về phía chiếc đồng hồ dưới gối. Cánh tay gã mỏi rã rời, chỉ riêng việc nhấc nó lên thôi cũng thấy nhọc. Bây giờ thì chưa thấy nhức nhưng qua ngày mai là cơn đau cơ sẽ hành hạ gã. Gã không đeo kính, vì vậy gã không nhìn thấy gì nếu không đưa đồng hồ lên sát mặt. Mười một giờ vừa trôi qua được ít phút. Gã không thể nghĩ ngay ra được câu trả lời. Vì gã còn chưa định thần được là gã đang ở đâu.

    - … Quý khách có nghỉ lại đêm nay không ạ? – Người quản lý nén cơn sốt ruột hỏi.

    Ryuji đang rên ư ử bên cạnh. Rõ ràng đây không phải là phòng gã. Không biết tự khi nào màu sắc của thế giới đã được tô lại. Sợi dây liên hệ giữa quá khứ với hiện tại và tương lai cắt đứt thành hai đoạn: trước và sau khi ngủ.

    - A lô…

    Người quản lý lo lắng không biết có ai ở đầu dây hay không. Một niềm vui vô cớ bỗng trào lên trong ngực Asakawa. Ryuji trở mình rồi hé mắt. Nước dãi sùi ra bên mép. Ký ức của y thật mông lung, tìm đâu cũng chỉ thấy những khung cảnh tối tăm. Khoảng ký ức từ lúc gặp bác sỹ Nagao cho đến khi chạy xe tới Villa Log Cabin thì Ryuji còn nhớ, chứ đoạn tiếp theo thì thật lờ mờ. Những hình ảnh đen tối cứ lần lượt hiện ra khiến y muốn tắc thở. Ryuji có cảm giác như y vừa mơ một giấc mơ cực kỳ dữ dội song lại quên ngay khi tỉnh giấc. Nhưng thật lạ là y thấy vui.

    - A lô, quý khách có nghe thấy không ạ?

    - Vâng…

    Mãi rồi Asakawa cũng lên tiếng. Gã đổi ống nghe sang tay bên kia.

    - Giờ trả phòng là mười một giờ thưa quý khách.

    - Tôi hiểu. Tôi sẽ chuẩn bị đi ngay.

    Đáp lại thông báo ngắn gọn của người quản lý Asakawa cũng trả lời một cách ngắn gọn. Gã nghe thấy tiếng nước máy chảy rí rách. Đêm qua, trước khi ngủ hình như gã đã không vặn chặt vòi nước. Asakawa bỏ ống nghe.

    Đôi mắt Ryuji nãy giờ hơi hé bây giờ lại nhắm tịt. Gã lay người Ryuji.

    - Ryuji, dậy đi.

    Gã không đoán được là mình đã ngủ trong bao lâu. Thông thường thì gã chỉ ngủ từ năm đến sáu tiếng nhưng gã biết mình đã ngủ nhiều hơn thế qua trạng thái cơ thể lúc tỉnh dậy. Vả lại lâu lắm rồi gã mới được ngủ ngon và vô ưu đến thế.

    - Ryuji! Không trả phòng bây giờ là bị tính thêm tiền đấy.

    Asakawa lay mạnh hơn nhưng Ryuji vẫn không dậy. Gã ngước mắt lên và nhìn thấy một cái bọc bằng ni-lông đặt trên mặt bàn ăn. Asakawa bất chợt nhận ra thứ được đựng trong chiếc bao trắng đục ấy. Chỉ với một mối nối rất nhỏ, gã đã cởi bỏ được toàn bộ bức màn che phủ giấc mơ. Mình đã gọi tên Yamamura Sadako. Sadako được kéo lên từ trong lòng đất lạnh giá và nằm thu lu nhỏ bé trong cái bọc bằng ni-lông. Có tiếng nước chảy lách rách… Tối qua, Ryuji đã dùng nước máy để tắm rửa cho cái di hài đầy bùn đất của Sadako. Lúc này, nước vẫn đang chảy. Vào khi đó, hạn thời gian đã trôi qua. Và Asakawa vẫn sống, cho tới tận bây giờ. Gã sung sướng tột độ. Khi cái chết bén gót đã đi qua, nồng độ sinh mệnh trở nên đậm đặc hơn và bắt đầu tỏa sáng lấp lánh. Hộp sọ của Sadako đẹp như một cái chặn giấy làm bằng đá hoa cương.

    - Này Ryuji! Dậy mau.

    Asakawa bất giác có linh cảm xấu. Gã vẫn cảm thấy có cái gì đó chưa ổn. Gã áp tai lên ngực Ryuji. Gã muốn chắc chắn rằng Ryuji vẫn sống bằng cách kiểm tra nhịp tim từ trên lớp áo thể thao dày. Nhưng khi Asakawa còn chưa kịp chạm tai vào ngực Ryuji thì đột nhiên có hai bàn tay hộ pháp khóa chặt cổ gã. Asakawa hoảng hốt cố sức vùng vẫy.

    - Hề hề hề, đồ ngốc! Cậu tưởng tớ ngỏm rồi hả?

    Ryuji buông cổ Asakawa ra rồi cất tiếng cười nghe lạ như một đứa trẻ. Sau những vụ việc kiểu như thế này, gã tin rằng mọi chuyện đều có thể xảy ra. Chẳng có gì đáng đùa ở đây cả. Gã sẽ chẳng mảy may nghi ngờ nếu ngay lúc này Sadako sống dậy và đứng cạnh chiếc bàn kia còn Ryuji thì chết với bàn tay đang bứt tóc ngay trước mắt gã. Asakawa ghìm cơn giận. Gã nợ Ryuji quá nhiều.

    - Cậu thôi cái trò vớ vẩn ấy đi.

    - Trả đũa một chút, bù lại cho trò hù doạ của cậu đêm qua.

    Ryuji vẫn nằm đấy và cười hềnh hệch.

    - Mình làm sao?

    - Cậu ngất xỉu dưới đáy giếng chứ còn sao. Thời gian hết, cứ tưởng là cậu chầu trời rồi, làm tớ lo phát sốt.

    - …

    Asakawa chớp chớp mắt.

    - Không nhớ gì hả. Chậc, đúng là đồ vô tích sự.

    Đúng là chẳng có chút ký ức nào gợi gã nhớ tới việc gã đã tự bò ra khỏi cái giếng.

    Đêm qua, Asakawa được kéo lên bằng dây thừng trong tình trạng gần như kiệt quệ. Cuối cùng thì gã cũng nhận ra điều đó. Thật chẳng nhẹ nhàng gì khi phải kéo một cơ thể nặng 60kg lên từ độ sâu bốn năm mét ngay cả với đôi tay lực lưỡng của Ryuji. Cái cảnh Asakawa bị treo lủng lẳng giống hệt với bức tượng đá En-no-Ozunu được vớt lên từ đáy biển. Nhưng khác với sức mạnh thần kỳ nhập vào người Shizuko lúc tìm ra bức tượng, cái mà Ryuji nhận được sau khi kéo Asakawa lên chỉ là cảm giác đau nhức trong các bắp cơ.

    - Ryuji. – Giọng Asakawa hơi đổi khác.

    - Gì cơ?

    - Mình nợ cậu nhiều quá.

    - Thôi đi ông tướng, nói nghe ghê cả người.

    - Không có cậu giúp đỡ thì chắc giờ này mình đã… Mình mang ơn cậu.

    - Đã bảo thôi đi mà. Buồn nôn bỏ xừ. Được một thằng giá áo túi cơm mang ơn thì xơ múi gì cơ chứ.

    - Đi ăn trưa thôi. Mình đãi.

    - Đương nhiên là cậu đãi rồi.

    Ryuji quả quyết nhỏm người dậy, chân y hơi lảo đảo. Cơ bắp toàn thân y bải hoải. Ngay cả Ryuji cũng ở vào tình trạng không thể điều khiển cơ thể mình theo ý muốn.

    Asakawa gọi điện về Ashikaga cho vợ từ trạm dừng chân của Pacific Land Nam Hakone để thông báo rằng gã sẽ tới đón cô vào sáng Chủ nhật như đã hẹn. Shizu hỏi: “Đã giải quyết xong rồi hả anh?” nhưng Asakawa chỉ đáp: “Có lẽ thế…” Cách duy nhất để suy ra điều đó là dựa vào một sự thật: gã còn sống. Nhưng khi đặt máy xuống rồi, cảm giác còn lại trong gã là một cái gì đó không lý giải nổi. Vẫn có gì chưa ổn. Nhưng mặt khác, gã lại muốn tin rằng mọi chuyện đã kết thúc êm đẹp chỉ với cái lý do rằng gã còn sống. Không biết chừng Ryuji cũng có cùng mối bận tâm như gã. Nghĩ vậy nên vừa quay về bàn gã lập tức hỏi Ryuji.

    - Ryuji này, chuyện như thế là kết thúc rồi đúng không?

    Trong lúc Asakawa gọi điện, Ryuji đã chén sạch bữa trưa.

    - Cún con có vui không? – Ryuji không trả lời ngay câu hỏi của gã.

    - Vui. Mà cậu nghĩ sao? – Vẫn có cái gì đó chưa thật nhẹ nhõm đúng không?

    - Cậu thấy băn khoăn à?

    - Thế còn cậu?

    - Cũng có.

    - Chưa ổn ở chỗ nào?

    - Lời tiên tri của bà lão: “Sang năm, cháu sẽ sinh con.”

    Quả là Ryuji cũng có mối ngờ vực giống mình. Vừa nghĩ như thế xong Asakawa lại lập tức muốn chối bỏ.

    - Nhỡ người được đề cập đến trong trường hợp này là Shizuko thì sao?

    - Không đời nào. – Ryuji gạt phắt đi. – Cuốn băng video được ghi lại bằng mắt và tâm tưởng của Sadako, mà bà lão thì lại hướng về phía màn hình. Vì thế cháu ở đây chỉ có thể là Sadako.

    - Có thể lời tiên tri của bà lão không phải là sự thật.

    - Khả năng tiên đoán của Sadako là bách phát bách trúng…

    - Nhưng Sadako không thể đẻ được con.

    - Thì thế mới mắc mớ. Trên phương diện sinh học, Sadako không phải là phụ nữ mà là đàn ông nên không thể sinh con. Vả lại, cô ta vẫn còn trinh trắng cho đến trước lúc chết. Hơn nữa…

    - Hơn nữa làm sao?

    - Người đàn ông đầu tiên của cô ta lại là Nagao, bệnh nhân đậu mùa cuối cùng của Nhật Bản, một danh hiệu quái gở…

    Từ xa xưa, thiên thần và quỷ sứ, tế bào và virus, đàn ông và đàn bà, thậm chí là cả ánh sáng và bóng đêm đều tồn tại dưới cùng một bản thể, không hề đối nghịch. Asakawa bỗng rơi vào trạng thái bất an. Một khi câu chuyện đã dính dáng đến cấu trúc di truyền hay hình dạng của vũ trụ trước khi trái đất hình thành thì không còn là việc mà một cá nhân có thể giải quyết được nữa. Về điều này, gã phải tự thuyết phục mình. Gã phải dẹp bỏ mối bận tâm bằng mọi cách để khẳng định rằng dù gì thì mọi chuyện cũng đã kết thúc.

    - Này, mình vẫn đang sống đây thôi. Câu thần chú bị xóa mất đã giải mã được rồi. Vụ việc thế là kết thúc…

    Thế rồi Asakawa đột nhiên liên tưởng tới một chuyện. Gã tự hỏi, phải chăng chính bức tượng đá En-no-Ozunu cũng đã dùng sức mạnh ý nghĩ để được vớt lên khỏi đáy biển? Ý nghĩ ấy đã tác động vào Shizuko, bắt cô ta hành động và ban tặng cho cô ta một sức mạnh mới. Gã cảm thấy hai sự việc này quá đỗi giống nhau: việc đưa di hài Yamamura Sadako ra khỏi đáy giếng với việc vớt bức tượng đá En-no-Ozunu lên khỏi đáy biển… Thế nhưng, chính cái khả năng mà Shizuko được ban tặng, thật trớ trêu, lại mang đến cho cô ta những bất hạnh. Đấy là điều làm gã bận tâm. Tuy nhiên, đó là câu chuyện xét trên khía cạnh kết quả. Còn trong trường hợp này, có lẽ chỉ cần bàn đến khả năng đã có một sức mạnh tương tự từ bên ngoài giải thoát cho bọn họ khỏi lời nguyền là đủ. Asakawa cố buộc mình phải nghĩ như vậy.

    Ryuji chăm chăm nhìn lên mặt rồi xuống vai Asakawa, y gật đầu liền hai cái sau khi đã chắc chắn gã đàn ông trước mặt mình đang sống.

    - Về chuyện đó thì chắc là không có vấn đề gì. – Ryuji thở phù một cái và nhún người trên ghế. – Chỉ có điều…

    - Sao cơ?

    - Rốt cuộc thì Yamamura Sadako đã sinh ra cái gì? – Ryuji vừa nhấc người dậy vừa tự hỏi chính mình.

  17. MinhThy R.L.G

    2.

    Asakawa và Ryuji chia tay nhau ở ga Atami. Asakawa định sẽ chuyển bộ hài cốt của Sadako về cho thân quyến của cô ta ở Sashikichi và nhờ họ an táng giúp. Hẳn là họ sẽ chỉ thấy phiền toái khi bỗng nhiên bị trao vào tay bộ hài cốt của một cô cháu họ sau gần ba mươi năm biệt tích. Nhưng hài cốt là hài cốt nên gã đâu có thể bỏ mặc. Gã cũng có thể yêu cầu chính quyền mai táng cô ta vào một ngôi mộ vô chủ nào đó nếu không biết tung tích, nhưng chính vì biết rằng đó là Yamamura Sadako nên gã buộc phải trao lại cô ta cho quyến thuộc ở Sashikichi. Ở Sashikichi gã sẽ gợi ý với họ rằng cô ta tự sát, vì thời hiệu điều tra đã hết từ lâu, vả lại, bày đặt chuyện hung thủ ra vào lúc này chỉ tổ mua thêm rắc rối. Gã muốn trao hài cốt xong rồi quay về Tokyo ngay, nhưng tàu khởi hành từ đảo Oshima đã hết nên nếu đi từ bây giờ gã sẽ phải ở lại đó một đêm. Mà đi bằng máy bay thì càng bất tiện vì gã để ô tô ở cảng Atami.

    - Một mình cậu đi đưa hài cốt là đủ.

    Ryuji kẻ cả nói lúc xuống xe trước cửa ga Atami. Hài cốt của Sadako lúc này được đặt ở ghế sau trong một bọc vải màu đen chứ không phải bao ni lông nữa. Cái gì chứ việc chuyển gói nhỏ này cho nhà Yamamura ở Sashikichi thì đến đứa trẻ ranh cũng làm được. Điều quan trọng là làm thế nào để họ chịu nhận nó. Sẽ rất phiền toái nếu họ từ chối và gã chẳng biết đem đi đằng nào. Gã cảm thấy câu thần chú chưa thể hoàn tất nếu hài cốt của cô ta không được một người thân cầu siêu. Chỉ có điều, sao nhỉ, họ sẽ dựa vào căn cứ nào để tin rằng đó là Yamamura Sadako khi bỗng nhiên bị chìa ra một bộ xương cách nay đã hai mươi lăm năm? Asakawa hơi lo lắng.

    - Thôi nhé, hẹn cậu ở Tokyo. – Ryuji vẫy tay rồi bước qua cửa soát vé ga Atami. – Tớ sẽ đi uống với cậu khi nào rảnh việc.

    Ryuji còn một núi luận văn phải hoàn thành gấp.

    - Cảm ơn. Mình sẽ hậu tạ cậu sau.

    - Thôi khỏi, thế cũng vui rồi.

    Asakawa trông theo bóng Ryuji cho tới khi hắn biến mất vào trong những bậc thang dẫn lên sân ga. Thế rồi ngay trước khi khuất hẳn, Ryuji bất ngờ chệch chân khỏi bậc cấp và suýt ngã. Mặc dù đã lấy lại được thăng bằng nhưng cái khoảnh khắc chấp chới ấy, những đường nét rắn rỏi của cơ thể Ryuji bỗng nhòe đi thành hai hình trong mắt Asakawa. Asakawa thấy mệt, gã đưa tay dụi mắt. Thế rồi khi bỏ hai tay ra khỏi mắt thì Ryuji đã khuất hẳn trên sân ga. Đúng lúc ấy, một cảm giác rất lạ xâm chiếm gã. Kèm theo đó là một mùi cam quýt không rõ chân tướng cù vào hốc mũi…

    Chiều hôm ấy, Asakawa mang bộ hài cốt đến nhà Yamamura Takashi một cách an toàn. Vừa thả lưới về, Yamamura Takashi lập tức hiểu ra rằng cái gì đang nằm trong bọc vải màu đen trên tay Asakawa. Gã đưa hai tay ra và nói: “Thưa bác, đây là hài cốt của Sadako”. Ông lão ngắm cái bọc một lát, nheo mắt lại đầy nhớ thương rồi quả quyết bước tới nhận lấy sau khi cúi đầu thật thấp và nói: “Phiền anh đã lặn lội đường xa”. Asakawa chưng hửng. Gã không ngờ được rằng ông lão lại nhận lấy một cách dễ dàng đến thế.

    Yamamura Takashi như đọc thấy câu hỏi của Asakawa, ông nói với một giọng đầy quả quyết.

    - Đúng là Sadako rồi.

    Sadako đã sống ở quán trọ Yamamura cho tới năm ba tuổi và sau đó là từ chín tuổi đến mười tám tuổi. Rốt cuộc thì Sadako có ý nghĩa như thế nào với ông lão Yamamura Takashi năm nay sáu mốt tuổi? Gã có thể hình dung ra được tình yêu của ông lão qua nét mặt lúc ông nhận lấy hài cốt. Ông lão không hề kiểm tra xem nó có đúng là của Sadako hay không. Có lẽ việc làm ấy là không cần thiết. Ông lão có thể cảm nhận được điều đó bằng trực giác của mình. Ánh mắt sáng rực khi mới nhìn thấy cái bọc đã nói lên tất cả. Chắc chắn đã có một sức mạnh nào đó làm việc này.

    Xong xuôi rồi Asakawa muốn tránh xa Yamamura Sadako càng sớm càng tốt. Gã nói dối rằng phải đi ngay cho kịp giờ máy bay và nhanh nhẹn cáo lui. Vì nếu chẳng may mà gia đình đổi ý và từ chối nhận bộ hài cốt vì không có chứng cứ thì công toi. Nhất là gã chẳng biết phải trả lời ra sao trong trường hợp bị hỏi này hỏi nọ về Sadako. Phải rất lâu nữa gã mới có thể kể câu chuyện này với người khác. Đặc biệt là vào lúc này, gã chưa sẵn sàng tâm lý để nói chuyện với người thân của cô ta.

    Nhân tiện gã ghé qua cảm ơn Hayatsu ở ban tin tức rồi tới khách sạn Suối Nước khoáng Oshima. Gã muốn thư thái ngâm mình trong làn nước nóng để trút đi cái mệt nhọc và để sắp xếp toàn bộ diễn biến của vụ việc thành một bài báo.
  18. MinhThy R.L.G

    3.

    Vào khoảng thời gian Asakawa nhận phòng ở khách sạn Suối Nước khoáng Oshima thì Ryuji đang ngủ gục trên chiếc bàn trong căn hộ chung cư ở Higashi-nakano. Môi y dán lên bài luận văn viết dở khiến cho những dòng mực màu xanh đen nhoè đi vì nước bọt. Có lẽ do y quá mệt, bàn tay vẫn nắm chặt cây bút máy yêu quý hiệu Mont Blanc. Ryuji chưa chịu dùng máy đánh chữ cho công việc viết luận văn.

    Hai vai giật mạnh, khuôn mặt tỳ lên bàn méo đi một cách thiếu tự nhiên. Ryuji bất ngờ bật dậy. Y vươn người và mở to hai mắt tới mức chẳng có vẻ gì là vừa thức giấc. Đôi mắt một mí của Ryuji vốn xếch ngược nhưng khi mở to hết cỡ trông chúng lại có vẻ đáng yêu khác thường. Hai con ngươi đỏ quạch. Y vừa nằm mơ. Ryuji, kẻ tuyên bố không sợ bất cứ thứ gì trên cõi đời này đang run. Y không nhớ được nội dung của giấc mơ. Chỉ cái cơ thể đang run lên từng cơn là nói rất thật về sự đáng sợ của giấc mơ ấy. Khó thở. Y nhìn đồng hồ: 9:40 phút tối. Thời gian này ám chỉ điều gì? Y không thể nghĩ ra ngay. Bóng đèn huỳnh quang trong phòng và chiếc đèn bàn ngay trước mặt Ryuji đang tỏa sáng. Ánh sáng không hề thiếu vậy mà y cảm thấy vẫn chưa đủ. Nỗi sợ bóng tối của bản năng… Một giấc mơ toàn sự hắc ám không thể nào diễn tả nổi.

    Ryuji xoay chiếc ghế đang ngồi và nhìn thấy bộ đầu video. Cuộn băng vẫn ở trong đó. Không hiểu sao y không thể rời mắt đi chỗ khác. Y nhìn chằm chằm vào nó. Y thở gấp. Vẻ nghi hoặc lộ ra trên mặt. Không có thời gian cho những tư duy logic, chỉ có những hình ảnh đang chạy phía trước.

    - Hỏng rồi, nó đang đến…

    Ryuji chống hai bàn tay lên mép bàn, lắng nghe động tĩnh phía sau lưng. Chung cư nằm ở một nơi yên ắng sau con phố lớn nên y không thể phân biệt được những tạp âm hỗn độn lẫn vào nhau. Thỉnh thoảng lắm mới có tiếng rồ máy và tiếng lốp xe nghiến xuống mặt đường của một chiếc ô tô nào đó, còn lại mọi âm thanh khác của phố xá đều vón thành một mớ mơ hồ bồng bềnh sang phải rồi sang trái ở sau lưng y. Nếu thật chú ý lắng nghe, đôi khi Ryuji có thể phân biệt được nguồn phát ra của từng âm thanh một. Trong đó có cả tiếng côn trùng. Mớ âm thanh hỗn độn ấy dập dờn như một đốm ma trơi. Hiện thực thật xa xăm… Ryuji có cảm giác như vậy. Thế rồi, hiện thực càng trôi xa càng có nhiều những khe hở hình thành xung quanh Ryuji, từ chúng tỏa ra một bầu không khí quái gở. Khí lạnh ban đêm và hơi ẩm quấn trên da biến thành bóng đen đè nặng lên y. Nhịp tim Ryuji bắt đầu vượt qua tiếng tích tắc của kim giây đồng hồ và nhanh lên trông thấy. Ngực y trĩu nặng. Ryuji nhìn lại đồng hồ lần nữa. 9:44. Y đã nuốt nước bọt không biết bao
    nhiêu lần sau mỗi bận nhìn đồng hồ.
    … Một tuần trước, lúc mình xem cuộn băng ở nhà Asakawa là lúc mấy giờ? Hình như hắn bảo khoảng chín giờ thì cún con nhà hắn đi ngủ… Nếu mình ấn nút play ngay sau đó… thì lúc mình xem hết cuộn băng là…

    Ryuji không thật chắc là mình đã xem hết cuốn băng vào thời điểm nào. Nhưng y biết thời khắc ấy đang đến gần. Ryuji thừa hiểu cái bóng đen đè nặng lên gã lúc này không phải là ảo giác. Nó hoàn toàn khác với nỗi sợ gây ra do bệnh tưởng. Nó không phải chứng mang thai tưởng tượng. Rõ ràng, nó đang tiến đến. Chỉ có điều Ryuji không hiểu…

    … Tại sao nó chỉ đến chỗ mình?

    … Tại sao nó lại chỉ đến chỗ mình mà không đến chỗ Asakawa? Ê, như thế là bất công.

    Những câu hỏi cứ tuôn ra bất tận.

    … Thế nghĩa là sao? Bọn ta đã giải mã được câu thần chú rồi cơ mà? Nếu vậy thì tại sao? Tại sao? Tại sao?

    Ngực y đập thình thịch. Y cảm thấy như có bàn tay của ai đó thò vào trong ngực và bóp chặt tim y. Xương sống đau nhói. Một cảm giác lạnh buốt chạy qua cổ. Ryuji kinh ngạc đứng lên khỏi ghế nhưng cơn đau dữ dội từ hông chạy dọc sống lưng làm y khuỵu ngã xuống sàn.

    … Phải nghĩ xem ta cần làm gì!

    Cái ý thức được duy trì một cách khó khăn đang ra lệnh cho cơ thể. Đứng dậy! Phải đứng dậy và suy nghĩ! Ryuji bò lê trên chiếu tới bộ đầu video. Y ấn nút eject và lấy cuộn băng ma ám ấy ra. Tại sao y lại hành động như thế? Vì đó là điều duy nhất mà y có thể làm được vào lúc này. Ngoài việc xem xét tỉ mỉ cuốn băng giết người ra, y còn có thể làm được gì ở nơi này? Ryuji lật mặt sau cuộn băng lên xem xét rồi định đút nó lại vào trong máy, nhưng y ngừng lại. Trên miếng nhãn ở gáy băng có dòng chữ do Asakawa viết: Liza Minnelli, Frank Sinatra, Sammy Davis, Jr./1989. Có vẻ như một chương trình âm nhạc phát trên ti vi. Asakawa đã xóa nó và ghi chèn đoạn băng giết người lên đó. Một dòng điện chạy dọc sống lưng Ryuji. Một ý nghĩ nhanh chóng hình thành trong cái đầu trống rỗng của y. Không thể như thế… Đã có lúc Ryuji phủ nhận cái ý nghĩ bất chợt lóe lên ấy, nhưng khi lật ngược cuốn băng, dòng điện thoáng qua kia đã chuyển thành một niềm xác tín. Ryuji bỗng hiểu ra mấy sự việc cùng một lúc bằng tư duy cực nhanh của
    mình: bí mật của câu thần chú, lời tiên tri của bà lão, và một sức mạnh khác ẩn chứa trong cuốn băng… Tại sao Asakawa được cứu sống còn y thì phải đối mặt với cái chết… Và Yamamura Sadako đã đẻ ra cái gì… Lời gợi ý chẳng ở đâu xa. Ryuji chưa bao giờ nghĩ đến sự dung hợp giữa sức mạnh của Sadako với một sức mạnh khác. Cô ta muốn có con. Nhưng cấu tạo cơ thể không cho phép cô ta làm việc đó. Vì thế, cô ta đã bắt tay với quỷ dữ… và sinh ra thật nhiều đứa con… Điều ấy sẽ đem đến hậu quả như thế nào? Ryuji nghĩ. Y nén cơn đau và cười. Một nụ cười cay đắng.

    … Trò đùa quái ác. Ta những muốn chứng kiến hồi kết của loài người… nhưng tại sao… ta lại là kẻ đầu tiên?

    Ryuji lết đến gần chiếc điện thoại và bắt đầu quay số nhà Asakawa nhưng ngay lúc đó y chợt nhớ ra rằng gã đang ở Oshima.

    … Nếu mình chết, hẳn là thằng cha đó phải bất ngờ lắm.

    Cơn tức ngực làm xương sườn y kêu cọt kẹt.

    Thuận tay, Ryuji quay số gọi Takano Mai. Giữa niềm ham sống mãnh liệt với ý nguyện muốn nghe giọng Mai lần cuối, Ryuji không thể phân biệt được cái nào đã thôi thúc y gọi điện. Giữa lúc ấy có một giọng nói vang lên trong đầu gã.

    … Dừng lại, không nên kéo cô ấy vào chuyện này.

    Song lại có một giọng nói khác của sự hy vọng: nhưng biết đâu vẫn còn kịp?

    Chiếc đồng hồ trên bàn đập vào mắt Ryuji: 9:48. Ryuji áp tai vào miệng ống nghe và chờ Takano Mai. Đầu y ngứa ngáy, nhột nhạt một cách khó tả. Y đưa tay gãi sồn sột và nhận thấy một vài sợi tóc vừa bị rứt đứt. Chuông đổ lần thứ hai, Ryuji ngẩng đầu. Y nhìn thấy mặt mình phản chiếu lên tấm gương treo dọc trên cánh tủ đứng. Quên mất mình đang kẹp chiếc điện thoại trên vai, Ryuji ghé sát mặt mình vào gương. Hành động ấy khiến ống nghe rơi xuống nhưng y chẳng bận tâm, y đang mải nhìn mình trong gương. Tấm gương phản chiếu một người khác. Hai má vàng bủng, khô rát và nứt nẻ, những cái vảy màu nâu nằm rải rác giữa các khe hở của những sợi tóc đang rụng dần… Ảo giác, chắc chắn là ảo giác. Ryuji tự thuyết phục mình. Mặc dầu vậy, y vẫn không làm sao kiềm chế được tình cảm. “A lô!”, có tiếng một người phụ nữ phát ra từ chiếc ống nghe nằm lăn lóc trên sàn. Không chịu đựng được nữa, y thét lên đau đớn. Giọng nói của Takano Mai, người mà y yêu, đã không lọt được tới tai y vì bị tiếng thét át mất. Kẻ trong gương chính là
    hình dạng của y một trăm năm sau. Quả thực, ngay cả đến Ryuji cũng không thể hình dung ra được việc thấy mình biến thành một con người hoàn toàn khác lại đáng sợ đến thế…

    Nghe đến hồi chuông thứ tư thì Takano Mai nhấc ống nghe và cất tiếng “A lô!”. Tuy nhiên, đáp lại cô chỉ là những tiếng kêu đau đớn “A…a…a…”. Cơn rùng mình chạy qua đường dây điện thoại. Cứ thế, nỗi sợ hãi truyền từ căn hộ của Ryuji tới căn phòng của Takano Mai một cách nguyên vẹn. Takano Mai hoảng hốt đưa ống nghe ra xa khỏi tai. Tiếng rên rỉ vẫn tiếp diễn. Giật mình trước tiếng thét lúc ban đầu, nhưng tiếng rên sau đó khiến cô ngờ vực. Một vài lần Takano Mai từng nhận được những cú điện thoại trêu chọc nhưng lần này thì khác, cô nghĩ thế và lập tức đưa lại ống nghe lên tai. Tiếng rên ngừng bặt. Chỉ có sự im lặng hoàn toàn.
    9:49 tối. Cùng với sự tan vỡ đầy nghiệt ngã của ước nguyện được nghe thấy giọng người con gái mình yêu lần cuối, Ryuji đã lìa đời trong tiếng kêu thắt ruột. Hư vô dần bao bọc lấy ý thức… Lại một lần nữa giọng nói của Takano Mai phát ra từ chiếc ống nghe ngay cạnh tay y. Ryuji dang rộng hai chân trên sàn nhà, tựa lưng vào thành giường, ném cánh tay trái lên trên tấm đờ-ra và cố với bàn tay phải về chiếc điện thoại đang phát ra tiếng thì thầm “A lô!”. Y ngật cổ hẳn ra đằng sau, trố mắt nhìn lên trần nhà. Thế rồi ngay trước khi hư vô đi vào thân xác, Ryuji biết rằng mình đã cầm chắc cái chết, y thầm nghĩ với tất cả sức lực của mình: “Ta muốn nói với Asakawa về bí mật của cuốn băng”.
    “A lô! A lô!”, Takano Mai liên tục gọi sang phía đầu dây bên kia. Không có tiếng trả lời. Cô gác máy. Tiếng rên ấy cô rất quen. Một linh cảm không lành lướt qua đầu, cô nhấc máy và quay số cho người thầy mà cô tôn kính. Có tiếng tút tút báo bận. Cô dập máy rồi lại quay số. Máy vẫn bận. Đến lúc ấy thì Takano Mai hiểu ra rằng, chính là Ryuji vừa gọi đến và có chuyện gì đó chẳng lành đã xảy ra.
  19. MinhThy R.L.G

    4.

    Thứ Bảy, ngày 20 tháng Mười

    Lâu lắm rồi gã mới về nhà, nhưng ngôi nhà không có vợ và con thật là trống trải. Mấy ngày trôi qua rồi nhỉ, Asakawa bấm đốt ngón tay. Một đêm ở Kamakura, hai đêm mắc kẹt trên đảo Oshima vì cơn bão, một đêm ở Pacific Land Nam Hakone, và lại một đêm trên đảo Oshima. Mới chỉ có năm đêm. Vậy mà gã cảm thấy như đã xa nhà lâu lắm. Những chuyến đi lấy tin dài bốn, năm ngày liền là chuyện cơm bữa song bao giờ gã cũng cảm thấy tiếc vì chúng trôi quá nhanh mỗi khi nghĩ lại.

    Asakawa ngồi xuống trước chiếc bàn làm việc và bật máy đánh chữ. Khắp người gã vẫn còn ê ẩm, chỉ riêng việc đứng lên ngồi xuống thôi cũng đủ khiến cho hông đau nhức. Đêm qua, gã đã ngủ hơn mười tiếng, nhưng như thế cũng không giúp gã giải tỏa hết mọi mệt mỏi tích tụ trong một tuần mất ngủ vừa qua. Song gã vẫn chưa thể nghỉ ngơi. Nếu không giải quyết chỗ công việc còn tồn đọng thì gã không thể lái xe đưa vợ đi Nikko chơi vào sáng ngày mai như đã hứa.

    Asakawa nhanh chóng quay mặt vào chiếc máy đánh chữ điện tử. Một nửa bài báo cáo đã nằm trong đĩa mềm. Gã sẽ viết nốt nửa còn lại, đoạn từ sau khi danh tính của Yamamura Sadako được làm rõ hôm thứ Hai, và cố gắng hoàn tất bản thảo thật nhanh.

    Cho tới giờ cơm chiều gã đã viết được năm trang. Đấy là tốc độ trung bình. Về khuya, nhịp dộ làm việc của gã còn nhanh hơn nữa. Cứ cái đà này thì gã hoàn toàn có thể đón vợ con với một tâm trạng khá thoải mái. Và rồi từ thứ Hai tuần sau, cuộc sống thường nhật chẳng có gì khác trước sẽ lại bắt đầu. Gã không thể hình dung được ngài tổng biên tập sẽ phản ứng ra sao với bản thảo của gã nhưng gã chưa thể cho ông ta đọc chừng nào chưa xong. Tuy biết rằng vô ích song gã vẫn sắp xếp lại các sự kiện trong một tuần vừa qua để viết nốt phần còn dang dở. Chỉ khi nào bản thảo hoàn thành thì vụ án của gã mới kết thúc.

    Thỉnh thoảng Asakawa lại ngừng bàn tay đang gõ lên bàn phím. Trên tờ fax đặt cạnh gã là ảnh của Yamamura Sadako. Quả thực, cảm giác người con gái đẹp đến rợn người đang len lén quan sát mình khiến tư tưởng Asakawa bị phân tán. Gã đã nhìn thấy những cảnh tượng giống hệt như những gì mà đôi mắt vô cùng quyến rũ kia nhìn thấy. Đến tận lúc này, gã vẫn chưa thể gột bỏ được cái ý nghĩ rằng một phần của cô ta đã nhập vào người gã. Asakawa bỏ bức ảnh ra khỏi tầm mắt. Công việc không thể tiến triển khi cứ bị Yamamura Sadako nhìn chòng chọc.

    Sau khi kết thúc bữa chiều ở một hàng cơm gần nhà, Asakawa bỗng nhớ tới Ryuji: không biết giờ này hắn đang làm gì? Nói đúng hơn thì mới đầu gã chỉ mơ hồ nhớ tới khuôn mặt Ryuji mà thôi. Nhưng khi trở về phòng và tiếp tục công việc, gương mặt Ryuji trong đầu gã mỗi lúc một hiện lên rõ rệt hơn.
    … Giờ này hắn đang làm gì nhỉ?

    Đôi lúc, gã cảm thấy những đường nét của gương mặt Ryuji nhòe làm hai. Một cảm giác sốt ruột khó tả khiến gã với tay về phía chiếc điện thoại. Ống nghe được nhấc lên ở tiếng chuông thứ bảy, Asakawa thở phào nhẹ nhõm. Nhưng bên kia đầu dây là một giọng nữ.

    … A lô, tôi nghe.

    Một giọng nói thanh nhẹ, nhưng gần như không còn sức lực. Asakawa lập tức nhận ra giọng nói ấy.

    … A lô, tôi là Asakawa đây.

    - Vâng. – Tiếng đáp lại rất nhỏ.

    - Có phải cô Takano Mai đấy không? Cảm ơn cô vì bữa cơm hôm trước.

    - Dạ, không có gì ạ. – Takano Mai thì thầm khe khẽ và vẫn tiếp tục cầm máy.

    - Ryuji… có ở đấy không cô?

    Sao vẫn chưa chuyển máy cho Ryuji? Asakawa nghi hoặc.

    - Xin lỗi cô, Ryu…

    - Thầy, mất rồi anh ạ.

    - … Hả?

    Không ai biết gã đã cấm khẩu trong bao lâu. Sau một tiếng hả ngơ ngác, gã chỉ biết dán mắt vô hồn vào một điểm trên trần nhà. Phải đến lúc chiếc ống nghe đang cầm trong tay suýt rơi xuống đất gã mới thốt ra được câu hỏi tiếp theo: “Bao giờ?”

    - Khoảng mười giờ tối hôm qua…

    Thời gian mà Ryuji xem xong cuộn băng trong căn phòng của Asakawa là 9:49 phút tối thứ Sáu tuần trước. Đúng như thời gian đã được cảnh báo.

    - Thế nguyên nhân cái chết là gì?

    Gã đâu cần phải hỏi điều này.

    - Suy tim cấp tính…, người ta nói nguyên nhân vẫn chưa được làm rõ.

    Asakawa gần như không còn đứng vững được nữa. Vụ án vẫn chưa kết thúc. Bây giờ mới là hiệp hai.

    - Cô Mai vẫn còn ở đó chứ?

    - Vâng, tôi phải sắp xếp nốt chỗ di cảo của thầy.

    - Cô đừng về vội, tôi sẽ đến đó bây giờ.

    Asakawa ngã khuỵu cùng lúc chiếc ống nghe được đặt xuống. Mười một giờ sáng mai là hạn chót của vợ và con gã, cuộc chiến với thời gian mới chỉ bắt đầu. Hơn nữa, lần này gã phải chiến đấu một mình. Ryuji không còn. Gã không thể ngồi bẹp ở đây được nữa. Gã phải hành động thật gấp gáp… phải nhanh lên mới được…

    Asakawa chạy ra phố lớn để xem xét tình hình giao thông. Có lẽ đi ô tô sẽ nhanh hơn tàu điện. Asakawa lao qua vạch đường dành cho người đi bộ rồi leo lên chiếc xe thuê đang đậu trên phố. Thật may là gã đã kéo dài hợp đồng đến ngày mai vì định đi đón vợ và con gái.

    Nhưng rốt cuộc chuyện này là như thế nào?

    Asakawa vừa cầm vô lăng vừa cố gắng tập trung suy nghĩ. Nhưng các mảnh ý nghĩ cứ dội về như những cảnh flashback mà không thể nào ghép lại được với nhau. Càng nghĩ, sợi dây nối các sự kiện càng rối rắm, đầu óc càng hỗn loạn và muốn nổ tung. Bình tĩnh! Phải bình tĩnh để suy nghĩ! Asakawa ra lệnh cho mình. Cuối cùng, gã cũng nắm được điểm mấu chốt cần phải tập trung vào.

    … Rõ ràng bọn ta vẫn chưa tìm ra câu thần chú, nghĩa là lối thoát cho cái chết vẫn trong vòng bí ẩn. Và mong muốn của Yamamura Sadako không phải là việc được tìm thấy hài cốt để siêu thoát. Mong muốn của cô ta nằm ở chỗ khác. Nhưng rốt cuộc thì đó là cái gì? Và điều khó hiểu nhất là tại sao ta vẫn sống mặc cho câu thần chú chưa được giải mã? Như thế nghĩa là sao? Giải thích đi! Tại sao chỉ có ta còn sống?

    Mười một giờ sáng mai là thời khắc định mệnh của vợ và con gái Asakawa. Lúc này đã là chín giờ tối. Nếu không làm được gì cho tới khi đó, gã sẽ mất cả hai người.

    Ryuji đã xem xét vụ việc này từ xuất phát điểm là lời nguyền của Yamamura Sadako sau cái chết bất ngờ, nhưng càng lúc Asakawa càng thấy cách triển khai ấy bất hợp lý. Gã linh cảm thấy một trò trêu ngươi ác ý sâu xa hơn thế nhiều.

    Takano Mai ngồi quỳ gối trong căn phòng kiểu Nhật, đặt tập luận văn chưa công bố của Ryuji trên đùi và lật giở từng trang. Cô đọc lướt qua chúng nhưng nội dung của tập luận văn, vốn đã khó hiểu, không sao lọt được vào đầu cô lúc này. Căn phòng trống trải. Xác của Ryuji được đưa về nhà bố mẹ ở Kawasaki sáng sớm nay nên không còn ở đó nữa.

    - Cô có thể kể lại tường tận sự việc tối hôm qua được không?

    Gã đau lòng trước cái chết của Ryuji, một người bạn và thậm chí là một chiến hữu, nhưng gã không có nhiều thời gian để dìm mình trong thương xót. Asakawa ngồi xuống cạnh Mai, khẽ cúi đầu.

    - Có lẽ là vào khoảng hơn 9:30 tối, thầy gọi điện đến cho em…

    Mai kể lại tường tận sự việc xảy ra tối hôm qua. Cô nghe thấy tiếng rên trong ống nghe, sau đó là sự im lặng, rồi khi cô vội vã lao đến căn hộ của Ryuji thì thấy Ryuji đang tựa vào giường và dang rộng hai chân… Mai không rời ánh mắt khỏi vị trí tìm thấy thân thể, đôi mắt ngấn nước trong khi kể về tình trạng của Ryuji lúc đó.

    - Em gọi thế nào thầy cũng không trả lời…

    Asakawa không cho Mai thời gian để khóc.

    - Lúc ấy, trong phòng có gì lạ không?

    Mai lắc đầu.

    - Không… Chỉ có chiếc ống nghe rơi ra ngoài và kêu lạo xạo.

    Ryuji đã gọi điện cho Mai ngay trước cái chết… Để làm gì? Asakawa xác nhận một lần nữa.

    - Cô có chắc là Ryuji đã không nói gì với cô không? Ví dụ như về cuộn băng chẳng hạn…

    - Cuộn băng?

    Mai chau mày như tự hỏi, cuộn băng thì có quan hệ gì tới cái chết của Ryuji?

    Liệu có phải Ryuji đã tìm ra câu thần chú thực sự ngay trước phút lâm chung? Asakawa không bao giờ biết được.

    … Vì sao Ryuji lại gọi điện cho Takano Mai? Chắc chắn hắn đã gọi cho cô ấy vì biết mình sắp chết, nhưng… có phải hắn gọi chỉ vì muốn nghe thấy giọng nói của người mình yêu trước lúc chết? Hay là có thể cho rằng Ryuji đã giải mã được câu thần chú và định nhờ Takano Mai thực hiện. Vì thế hắn mới gọi cho cô ấy. Nghĩa là, cần phải có sự trợ giúp của một người thứ ba để thực hiện câu thần chú.

    Asakawa chuẩn bị đi. Mai tiễn gã ra đến cửa.

    - Cô Mai vẫn ở lại đây đêm nay phải không?

    - Vâng, tôi còn phải thu xếp chỗ bản thảo.

    - Vậy à. Xin lỗi vì đã quấy rầy cô.

    Asakawa định quay bước.

    - Xin lỗi, tôi muốn nói với anh điều này…

    - Vâng.

    - Anh Asakawa đang hiểu nhầm quan hệ giữa tôi với thầy, đúng không?

    - Cô nói sao?

    - Nghĩa là, anh nghĩ, chúng tôi có quan hệ trai gái…

    - … À không, đâu có chuyện đó.

    Mai có thể đọc thấy trong ánh mắt của một người đàn ông cái điều mà anh ta nghĩ về quan hệ giữa cô với Ryuji. Và ánh mắt đầy ngụ ý của Asakawa đã khiến cô phiền lòng.

    - Chắc anh còn nhớ, lần đầu tiên tôi gặp anh, thầy đã giới thiệu với tôi anh là bạn thân của thầy. Tôi hơi ngạc nhiên. Vì thầy chưa gọi ai là bạn thân ngoài anh. Nên tôi nghĩ anh là một người rất đặc biệt đối với thầy. Chính vì thế…

    Mai ngừng lời rồi nói tiếp.

    - Chính vì thế tôi mong anh, với tư cách một người bạn thân, hiểu rõ hơn về thầy. Thầy Ryuji, theo những gì tôi được biết thì… chưa từng quan hệ với một người con gái nào…

    … Nghĩa là Ryuji đã chết khi vẫn đồng trinh?

    Không có lời nào để đáp lại, Asakawa chỉ lặng thinh. Gã cảm thấy Ryuji trong ký ức của Mai là một con người hoàn toàn khác. Và câu chuyện có điều gì đó không ổn…

    - Thế nhưng…

    Thế nhưng cô đâu có biết sự việc xảy ra hồi lớp 11 của Ryuji? Asakawa định nói thế nhưng thôi. Gã không muốn vạch tội người đã khuất vào lúc này và cũng không muốn làm xấu đi hình ảnh của Ryuji đang yên nghỉ trong tim Mai.

    Tuy nhiên, gã lại cảm thấy một mối băn khoăn trong đầu. Asakawa tin vào trực giác của phụ nữ. Vả lại, một người thường xuyên gần gũi với Ryuji như Mai đã cho rằng Ryuji vẫn đồng trinh thì ắt phải có cơ sở. Gã bắt đầu nghĩ thế. Vậy thì, việc Ryuji xâm phạm một nữ sinh đại học ở gần nhà hồi lớp 11 chẳng qua chỉ là câu chuyện bịa đặt…

    - Trước mặt tôi, thầy lúc nào cũng như một đứa trẻ. Thầy kể với tôi mọi chuyện, không giấu giếm điều gì hết. Tôi nghĩ rằng tôi biết hầu hết thời tuổi trẻ và những lo âu của thầy.

    - Vậy ư?

    Ngoài câu nói ấy, Asakawa chẳng còn biết đáp lại thế nào.

    - Khi ở trước mặt tôi, thầy là một cậu bé mười tuổi, nếu ở đó có thêm người thứ ba, thầy là một quý ông. Còn ở trước mặt anh, hẳn thầy sẽ cố tỏ như mình là một tên đốn mạt. Nếu không làm thế…

    Takano Mai vội đưa tay vào chiếc xắc trắng, rút ra một tấm khăn tay rồi ấp lên mắt.

    - Nếu không làm thế, thầy sẽ không thể tồn tại được trong xã hội này… Anh có hiểu điều ấy không?

    Đầu tiên, gã ngạc nhiên. Nhưng, gã liền nghĩ tới một chuyện. Ấy là cái tính cách cô độc, không một người bạn của Ryuji thời cấp ba, mặc cho y có một tài năng đặc biệt trong việc học hành và chơi thể thao.

    - Thầy là một con người thuần túy… Thầy khác xa lũ nam sinh lòe loẹt, những kẻ không thể sánh được với thầy.

    Chiếc khăn trong tay Mai thấm đẫm những giọt lệ trào ra từ hai khoé mắt.

    Asakawa đang đứng ở khung cửa nhỏ hẹp, gã có quá nhiều điều phải nghĩ ngợi nên không thể ngay lập tức tìm được lời lẽ để nói với Mai. Ryuji mà Mai biết khác quá xa so với Ryuji mà gã biết, hai tiêu điểm chệch hẳn khỏi nhau khiến gã không thể nắm bắt được một cách rõ nét hình ảnh con người ấy. Trong Ryuji có những mảng tối. Nhân cách của Ryuji giống như một thứ không sao tóm được cho dù gã có cố công quờ quạng. Rốt cuộc thì gã không thể biết vào năm lớp 11 có phải Ryuji đã làm bậy với cô nữ sinh sống ở gần nhà y hay không… Và có thật là y vẫn tiếp tục hành vi ấy cho tới sau này như y nói hay không? Asakawa không muốn rối trí vì những chuyện không đâu. Nhất là lúc này, khi mà hạn chót đang chờ vợ và con gã vào ngày mai.

    Thế rồi Asakawa chỉ nói.

    - Đối với tôi, Ryuji là một người bạn thân tuyệt vời nhất.

    Câu nói ấy hình như làm Mai vui sướng, gương mặt đáng yêu của cô ánh lên một nụ cười trong nước mắt. Đôi mắt cô như khẽ nói, tôi hiểu. Asakawa đóng cửa rồi vội vã bước xuống những bậc thang của tòa chung cư. Gã ra tới đường, nhưng càng rời xa căn hộ của Ryuji, hình ảnh về người bạn đã dấn thân vào một trò chơi nguy hiểm đến hy sinh cả mạng sống của mình càng hiện lên rõ ràng trong gã. Không thèm chú ý tới xung quanh, Asakawa để mặc cho nước mắt mình trào ra.
  20. MinhThy R.L.G

    5.

    Chủ nhật, ngày 21 tháng Mười

    Kim đồng hồ nhích qua 0 giờ, đã sang Chủ nhật. Asakawa vừa ghi lại những điểm mấu chốt trên tay vừa cố gắng sắp xếp các dòng suy nghĩ.

    … Ngay trước khi chết, Ryuji đã tìm ra lời giải cho câu thần chú và cố gắng gọi điện cho Takano Mai để gọi cô ấy đến. Nghĩa là, để thực hiện câu thần chú cần phải có sự trợ giúp của Takano Mai. Nhưng vấn đề là tại sao mình vẫn sống? Chỉ có thể có một câu trả lời. Đó là, trong khoảng một tuần ấy, mình đã vô tình thực hiện câu thần chú mà không hề biết. Không còn cách giải thích nào khác. Tóm lại, nếu có người thứ ba giúp đỡ, bất cứ ai cũng có thể thực hiện được câu thần chú một cách dễ dàng. Nhưng vẫn còn một câu hỏi nữa. Đó là tại sao bốn đứa trẻ lại chạy trốn mà không thực hiện câu thần chú? Nếu đơn giản đến vậy, bọn chúng hoàn toàn có thể giả vờ can đảm trước mặt ba đứa kia rồi bí mật thực hiện câu thần chú lắm chứ? Hãy suy nghĩ cho kỹ. Trong một tuần vừa rồi mình đã làm gì? Điều gì mình làm mà Ryuji không làm?

    Nghĩ đến đó Asakawa hét lớn.

    - Làm sao ta biết được chuyện đó! Có vô khối những việc ta làm mà Ryuji không làm trong một tuần vừa qua… Thật điên rồ.
    Asakawa đấm vào bức ảnh có Yamamura Sadako.

    - Đồ khốn! Mi còn muốn làm khổ ta đến bao giờ?

    Gã đấm liên hồi vào mặt Sadako. Nhưng nét mặt Sadako chẳng hề thay đổi, cô ta vẫn giữ nguyên vẻ đẹp cho đến phút cuối cùng.

    Asakawa vào bếp, rót whisky đầy đến miệng ly. Gã cần phải giải tỏa đám máu đang tụ lại trong đầu. Gã định nốc trọn một hơi nhưng dừng lại. Biết đâu gã sẽ chợt nghĩ ra câu thần chú và phải lái xe trong đêm đến Ashikaga. Gã nên hạn chế uống rượu. Gã giận mình vì cứ cố muốn dựa dẫm vào một cái gì đó. Lúc khai quật hài cốt của Yamamura Sadako ở Villa Log Cabin, Asakawa đã gần như đánh mất mình trước cơn sợ hãi. Nhưng cuối cùng thì gã cũng đạt được mục đích chỉ bởi vì có Ryuji ở bên cạnh.

    - Ryuji! Ryu..ji…! Mình xin cậu, hãy giúp mình đi!

    … Mình không thể sống nổi nếu vợ con mình bị đem đi mất, mình không thể chịu được một cuộc sống như thế!

    - Ryu…ji…! Giúp mình đi. Tại sao mình còn sống? Chẳng lẽ vì mình là kẻ đầu tiên phát hiện ra Yamamura Sadako? Nếu như vậy, vợ và con mình sẽ không thoát khỏi cái chết. Không thể như thế được, phải không Ryuji?

    Tâm trí Asakawa rối loạn. Mặc dù biết không phải là lúc than khóc nhưng gã không còn đủ bình tĩnh. Thế rồi sau một hồi gào thét với Ryuji, gã trấn tĩnh lại. Gã tiếp tục ghi những điểm quan trọng khác ra giấy. Lời tiên tri của bà lão… Có thật là Yamamura Sadako đã sinh con? Liệu điều đó có quan hệ gì với Nagao Jotaro, kẻ đã giao cấu với cô ta ngay trước khi cô ta chết và là bệnh nhân đậu mùa cuối cùng của Nhật Bản? Trả lời cho những câu hỏi ấy chỉ toàn là những dấu chấm hỏi. Không có bất kỳ một căn cứ chắc chắn nào mách bảo. Liệu lập luận này có giúp gã tìm ra câu thần chú hay không? Gã phải tính toán vì thời gian không cho phép gã mắc sai lầm.

    Lại vài giờ nữa trôi qua. Bên ngoài trời sắp sáng. Asakawa ngã xuống sàn nhà, bên tai gã có tiếng thở của một người đàn ông. Có tiếng chim hót kêu chích chích. Gã không biết đó là chiêm bao hay hiện thực. Không biết tự lúc nào gã nằm vật trên sàn và ngủ thiếp đi. Rồi gã khẽ nheo mắt trước ánh nắng chói chang của buổi sáng. Gã thấy một bóng người bước đi khỏi trong làn nắng dịu. Gã không thấy sợ. Gã bỗng choàng tỉnh và nhìn mãi về phía cái bóng.

    - … Ryuji, cậu có ở đấy không?

    Cái bóng không đáp lại mà chỉ có tựa đề một cuốn sách hiện lên như được in thẳng vào những nếp nhăn trong não gã.

    “Loài người và dịch bệnh”

    Dưới lớp mí mắt đang nhắm lại của Asakawa, tựa đề cuốn sách nổi lên trắng sáng và rõ nét, sau đó nó từ từ biến mất cùng với một dư âm. Cuốn sách đó chắc chắn đang nằm trong phòng làm việc của Asakawa. Gã mua nó lúc bắt đầu điều tra vụ án này vì ngờ rằng thủ phạm gây ra cái chết đồng thời cho cả bốn nạn nhân là một chủng virus. Tuy chưa đọc, nhưng gã còn nhớ rất rõ nó được cất ở vị trí nào trên giá sách.

    Mặt trời buổi sáng chiếu vào từ ô cửa sổ phía đông. Gã thấy đầu đau buốt khi định đứng dậy.

    … Một giấc mơ?

    Asakawa mở cửa phòng làm việc. Gã với lấy cuốn sách mà kẻ nào đó đã ám thị cho gã: “Loài người và dịch bệnh”. Tất nhiên, Asakawa đoán được kẻ đã ám thị cho gã ấy là ai. Đó chính là Ryuji. Ryuji đã đến thăm gã trong chốc lát để báo cho gã biết bí mật của câu thần chú.

    Lời giải cho câu thần chú nằm ở đâu trong cuốn sách dày hơn 300 trang này? Trực giác lại mách bảo gã. Trang 191. Tuy không thật đậm nét nhưng con số ấy đã chui vào đầu gã cùng với tên cuốn sách. Gã giở tới trang đó. Phút chốc, có hai con chữ cứ lớn dần lên và đập vào mắt gã.

    Sao chép Sao chép Sao chép Sao chép

    Bản năng của virus là tự nhân lên. “Virus xâm chiếm các tế bào sống và tự sao chép để nhân lên”.

    - Trời ơi!

    Asakawa kêu lên một tiếng thất thanh. Cuối cùng gã đã chạm được tới ý nghĩa của câu thần chú.

    … Thế là đã rõ: việc mình làm mà Ryuji không làm trong một tuần qua. Mình đã mang cuộn băng đó từ Villa Log Cabin về và sao cho Ryuji xem. Nội dung của câu thần chú chẳng phải là rất đơn giản hay sao? Một việc mà ai cũng làm được. Đó là sao chép và cho người khác xem… Chỉ cần tiếp tay cho sự nhân lên của nó bằng cách ấy – cho một kẻ chưa xem bao giờ xem nó. Bốn đứa trẻ sau khi giở trò nghịch ác đã ngu ngốc để cuộn băng lại Villa Log Cabin, nên chẳng có đứa nào định quay lại để lấy nó và thực hiện câu thần chú.

    Không còn cách lý giải nào khác. Asakawa nhấc ống nghe và quay số nhà vợ ở Ashikaga. Người nghe máy là Shizu.

    - Shizu, em phải nghe kỹ những điều anh nói. Anh muốn bố mẹ xem một thứ này. Ngay bây giờ. Em không được cho hai người đi ra ngoài cho tới khi nào anh đến. Rõ chưa? Đây là một việc vô cùng hệ trọng.

    … Trời ơi, phải chăng mình đang bán linh hồn cho quỷ dữ? Mình đang tìm cách đẩy bố mẹ vợ lâm vào một tình thế nguy hiểm nhất thời để cứu lấy mạng sống của vợ và con gái. Nhưng để cứu con và cháu gái, chắc chắn hai người sẽ vui vẻ nhận lời. Và nếu họ sao cuốn băng ra và lại cho người khác xem thì sẽ tránh được cái chết. Nhưng tiếp sau đó sẽ ra sao? Và sau đó nữa?

    - Chuyện gì vậy anh? Em chẳng hiểu gì cả.

    - Không phải hỏi, cứ làm như anh nói. Anh sẽ tới đó ngay bây giờ. À, còn nữa. Ở đó có đầu video không?

    - Có.

    - Beta hay VHS?

    - VHS.

    - Được rồi, anh đi ngay đây. Tuyệt đối không được đi đâu, em rõ chưa?

    - Nhưng mà khoan đã. Anh định cho bố mẹ xem cuốn băng đó à?

    Không biết trả lời sao, Asakawa đành im lặng.

    - Phải không anh?

    - … Phải.

    - Có nguy hiểm không?

    … Có nguy hiểm không ấy à? Nếu không làm thế, cô và con gái cô sẽ chết sau năm giờ nữa. Thôi đi, đồ ngốc! Đừng có hỏi nhiều. Tôi không có thời gian để kể lể mọi chuyện vào lúc này. Cố gắng lắm Asakawa mới kiềm chế được cơn nóng giận khiến gã muốn quát tướng lên.

    - Không nói nhiều, cứ làm theo những gì anh nói!

    Bảy giờ kém. Nếu ngay bây giờ gã chạy xe theo đường cao tốc và không gặp tắc đường, gã sẽ đến nhà vợ ở Ashikaga trước chín giờ. Nếu tính cả thời gian để sao hai cuốn băng, phần của vợ và con gái gã, thì vừa khít đến mười một giờ. Asakawa đặt ống nghe xuống, mở tủ đựng ti vi và rút nguồn điện của chiếc đầu video. Gã phải mang nó theo đến Ashikaga vì đằng nào cũng cần hai cái cho việc sao băng.

    Trước khi ra khỏi phòng, Asakawa nhìn lại Yamamura Sadako một lần nữa.

    … Mi đã đẻ ra một thứ của nợ.

    Từ dốc nối Oi, Asakawa quyết định cho xe chạy lên đường cao tốc nội đô, tuyến ven biển men theo vịnh Tokyo, rồi sau đó sẽ rẽ sang xa lộ Tohoku. Không bao giờ xảy ra tắc đường ở xa lộ Tohoku. Vấn đề là làm sao thoát khỏi nút tắc trên đường cao tốc nội đô. Lúc trả lệ phí giao thông và nhìn lên biển báo tắc đường ở dốc nối Oi, Asakawa mới chợt nhận ra rằng hôm nay là Chủ nhật. Có lẽ vì thế mà xe cộ qua đường hầm xuyên biển cũng vắng chứ không nối thành hàng dài như mọi khi, và thậm chí gã cũng không phát hiện thấy có dấu hiệu ùn tắc nào ở đoạn hợp lưu. Cứ cái đà này gã sẽ đến nhà vợ ở Ashikaga vào chín giờ như dự kiến và có thừa thời gian để sao hai cuốn băng. Asakawa thả lỏng chân ga. Điều khiến gã sợ nhất lúc này là dính vào một vụ tai nạn vì phóng quá nhanh.

    Vừa chạy dọc theo sông Sumida gã vừa nhìn xuống dưới, đây đó, gã nhận thấy gương mặt vừa thức giấc của phố phường vào ngày Chủ nhật. Người ta bước đi với dáng vẻ khác hẳn ngày thường. Một buổi sáng Chủ nhật thanh bình…

    Asakawa chợt nghĩ. Hành động này của gã sẽ đem đến một hậu quả như thế nào? Khi lũ virus, một của vợ gã, một của con gã, được thả ra theo hai hướng, chúng sẽ lan rộng đến mức nào? Gã có thể tính tới việc sao băng, đưa cho những người đã từng xem rồi xem lại và quay vòng trong một nhóm nhất định để ngăn chặn sự nhân rộng của chúng. Nhưng làm vậy sẽ đi ngược lại với ý muốn sao chép của virus. Lúc này, gã không cách nào biết được cuộn băng hoạt động với cơ chế ra sao. Để biết được điều đó thì cần phải làm các cuộc thí nghiệm. Nhưng chưa thể có những người dám hy sinh tính mạng để tìm ra sự thật một khi tình trạng lây lan chưa đủ nghiêm trọng. Nếu chỉ với một phương pháp đơn giản là sao băng rồi đem cho người khác xem mà thoát được nguy hiểm thì bất cứ ai cũng sẽ làm việc đó. Thế rồi, qua những câu chuyện truyền miệng, người ta nhất định sẽ thêm thắt rằng, cần phải đưa cuộn băng cho một người chưa xem nó bao giờ, và cả cái ân hạn vốn dài một tuần lễ cũng theo đó mà ngắn lại. Những người xem phải cuộn băng sẽ khôn
    g đợi hết một tuần mà ngay lập tức sao ra để đưa cho ai đó khác xem… Rốt cuộc thì cái vòng tròn ấy sẽ lan ra đến đâu? Chắc chắn chẳng mấy chốc, cuộn băng như một thứ dịch bệnh đánh vào nỗi sợ mang tính bản năng của con người sẽ lan ra khắp xã hội. Hơn thế nữa, bị ám ảnh bởi nỗi sợ, không ai dám chắc rằng họ sẽ không đặt ra những tin đồn như: “Người nào đã xem rồi sẽ phải sao ra ít nhất hai bản và phải đưa cho ít nhất hai người khác xem”. Giống như trò bán hàng đa cấp, nó sẽ lan tỏa với tốc độ mà một dòng chảy không thể nào so sánh được. Chưa đầy nửa năm, toàn bộ công dân Nhật Bản sẽ trở thành những người mang bệnh, rồi tiếp đó, sự lây lan sẽ vượt ra ngoài biên giới. Trong vòng quay ấy, sẽ có một vài người bỏ mạng khiến cho tất cả hiểu ra rằng đó không phải là một trò đùa và họ càng ra sức nhân rộng những cuốn băng. Gã không thể tưởng tượng được điều ấy sẽ gây ra một cơn hoảng loạn như thế nào và sẽ kết thúc trong một tình trạng ra sao. Và cả việc sẽ có bao nhiêu nạn nhân thiệt mạng nữa… Hai năm trước dạo
    bùng nổ những chuyện thần bí, con số bài viết gửi về các tòa soạn lên tới hơn mười triệu. Có một thế lực siêu nhiên nào đó đang thao túng. Và biết đâu, nhờ thế lực ấy, một loài virus mới sẽ thả sức hoành hành…

    Yamamura Sadako căm ghét người đời vì đã đẩy cha mẹ cô ta tới cái chết. Virus đậu mùa căm thù con người vì đã dồn chúng tới bờ vực của sự diệt vong. Hai mối thù hận ấy đã kết hợp lại trong cái cơ thể của một kẻ dị thường và tái xuất trên thế giới với một hình dạng không thể ngờ tới.

    Asakawa và cả gia đình gã, những kẻ không may xem cuộn băng đã vô tình nhiễm phải loài virus ấy. Họ là những kẻ mang mầm bệnh. Rồi đây, những con virus sẽ trực tiếp tấn công vào các gen di truyền, cốt lõi của sự sống. Nó sẽ gây ra hậu quả gì? Lúc này đây gã vẫn chưa biết được. Và nó sẽ ảnh hưởng như thế nào tới lịch sử sau này, mà không, tới sự tiến hóa của nhân loại?

    … Để bảo vệ gia đình, ta đang sắp phát tán ra thế giới một thứ bệnh dịch có thể sẽ hủy diệt cả loài người.

    Asakawa sợ hãi khi nghĩ tới ý nghĩa của cái hành động mà mình sắp làm. Có một tiếng thì thầm rất khẽ trong tai gã.

    … Chỉ cần hy sinh vợ con mi là mọi chuyện sẽ chấm dứt thôi mà. Mất vật chủ, virus sẽ tiêu vong. Mi sẽ cứu được cả nhân loại.

    Nhưng tiếng nói ấy quá nhỏ.

    Xe đã rẽ vào xa lộ Tohoku. Đường không đông. Cứ đi như thế này thì gã sẽ đến kịp. Asakawa lái xe trong tư thế gồng vai, hai tay nắm chặt vô lăng. “Ta không hối hận. Chẳng có lý gì mà ta phải hy sinh gia đình mình. Có những thứ mà ta phải bảo vệ bằng mọi giá một khi chúng bị đe doạ”.

    Asakawa nói lớn tới nỗi át cả tiếng động cơ, như thể một lần nữa khẳng định quyết tâm. Nếu là Ryuji, hắn sẽ làm gì trong hoàn cảnh này? Về điều ấy thì gã chẳng có gì phải băn khoăn. Vì chính linh hồn của Ryuji đã chỉ cho Asakawa câu thần chú. Nghĩa là, hắn muốn Asakawa cứu lấy vợ và con gái mình. Gã thấy yên tâm về điều đó. Nếu là Ryuji, hẳn là hắn sẽ nói thế này.

    … Vào lúc này, hãy thành thực với cảm giác của chính bản thân mình! Trước mặt chúng ta là một tương lai bất định. Mọi chuyện cuối cùng rồi đều có kết cục của nó. Và biết đâu loài người sẽ giải quyết được mọi thứ bằng tài trí của mình. Đối với loài người, đây chính là một thử thách. Ở thời nào cũng vậy, quỷ sứ luôn thay hình đổi dạng để tồn tại. Dù chúng ta có ra sức tiêu diệt, bọn chúng sẽ vẫn cứ xuất hiện mà thôi.

    Giữ đều chân ga, Asakawa nhằm thẳng hướng Ashikaga đi tới. Bầu trời Tokyo gã vừa bỏ lại đằng sau đang in trên mặt gương chiếu hậu. Dưới bầu trời ấy, những đám mây đen quái gở đang chuyển động, cái cách chuyển động giống như loài rắn, mặc khải về sự lan tràn của cái ác.

    HẾT